Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014

A night like this - Chương 7



Daniel không coi mình là một kẻ ưa chưng diện, hay một gã thích hưởng thụ, nhưng phải nói rằng – không có gì sánh bằng một đôi bốt chất lượng tốt.

Chuyến thư buổi trưa đã mang đến một bức thư của Hugh:

Winstead—

Như đã hứa, sáng nay tôi đã đến gặp cha mình. Theo tôi nghĩ thì ông ấy thật sự ngạc nhiên, cả việc nhìn thấy tôi ( chúng tôi không nói chuyện ) , và cả khi ông ấy được nghe về chuyện rủi ro của cậu vào tối qua. Tóm lại, tôi nghĩ rằng ông ấy không có trách nhiệm trong việc cậu bị tấn công.

Tôi chấm dứt buổi nói chuyện bằng việc nhắc lại lời hăm dọa của mình. Lúc nào cũng tốt hơn là nên nhắc lại hậu quả của hành động của ai đó. Nhưng có lẽ sự thích thú của tôi còn thích đáng hơn cả khi nhìn thấy máu rút hết khỏi mặt ông ấy.

Thân mến,

H. Prentice (cậu nên sống càng lâu càng tốt )

Vậy nên, cảm thấy an toàn hơn bao giơ hết, Daniel tiến về phía tiệm Hoby ở đường St. James, nơi bàn chân và cẳng chân của anh được đo chính xác đến độ có thể làm Galileo phải ấn tượng.

“Đừng nhúc nhích,” ông Hoby yêu cầu.

“Ta không có.”

“Thật sự là ngài có đấy.”

Daniel nhìn xuống bàn chân mang vớ của mình, nó không nhúc nhích.

Mặt ông Hoby nhăn lại với vẻ khinh khỉnh. “Đức ngài đáng kính công tước Wellington có thể đứng hàng giờ mà không hề động đậy một múi cơ.”

“Cả khi ông ta thở à?” Daniel lầm bầm.

Ông Hoby không thèm ngẩng đầu lên. “Chúng tôi không thấy vui gì cả.”

Daniel không khỏi thắc mắc liệu chữ “chúng tôi” là bao gồm cả ông Hoby và ngài công tước hay liệu lòng tự trọng của người đóng giày danh tiếng đã bị thách thức tới giới hạn đến nỗi ông ấy buộc phải nói về mình theo số nhiều.

“Chúng tôi cần ngài đứng yên,” ông Hoby cằn nhằn.

Vậy là vế thứ hai rồi. Một thói quen khó chịu, dù anh có địa vị cao sang cỡ nào, nhưng Daniel sẵn sàng chịu đựng điều đó, vì đôi bốt hoàn hảo tuyệt vời của ông Hoby.

“Tôi sẽ cố gắng hợp tác với mệnh lệnh của ông,” Daniel nói với cái giọng vui tươi nhất của mình.

Ông Hoby không có vẻ gì là buồn cười, thay vào đó ông quát tháo kêu một người phụ tá đưa ông cây bút chì để vạch theo chân của đức ngài Winstead.

Daniel đứng im thin thít ( còn giỏi hơn cả công tước Wellingham, người mà anh chắc chắn là đã hít thở trong khi được đo ), nhưng trước khi ông Hoby có thể kết thúc việc của mình, cánh cửa của cửa hàng bật mở, đập mạnh vào bức tường phía sau với lực mạnh đến độ làm tấm kiếng rung lắc. Daniel nhảy dựng, ông Hoby chửi rủa, phụ tá của ông Hoby rúm người, và khi Daniel nhìn xuống, ngón chân út trong bản phác thảo đã biến dạng thành móng vuốt của loài bò sát.

Quá ấn tượng.

Tiếng ồn do cánh cửa mở sầm ra sẽ thu hút đủ sự chú ý, nhưng rồi rõ ràng một người phụ nữ đã bước vào cửa hàng của người đóng giày, một người phụ nữ hình như đang lo sợ, người phụ nữ--“

“Cô Wynter?”

Không thể là ai khác được, không với những chiếc khóa hình con quạ ló ra dưới mũ không vành của cô, hay hàng lông mi cong dài đến khó tin của cô. Nhưng hơn cả thế,…thật lạ lùng, nhưng Daniel lại nghĩ anh nhận ra cô bởi cách cô di chuyển.

Cô nhảy dựng lên cả foot, có lẽ hơn, vì giật mình bởi giọng nói của anh mà cô bị vấp vào hàng kệ trưng bày ở phía sau cô, và tiếp đó cô không đụng vào đóng giày dép là nhờ người phụ tá nhanh trí của ông Hoby, người đã lao đến chỗ cô để cứu vãn tình thế.

“Cô Wynter,” Daniel lại nói, bước nhanh đến chỗ cô, “thôi nào, có chuyện gì vậy? Trông em giống như vừa gặp ma ấy.”

Cô lắc đầu, nhưng động tác giật cục và quá nhanh. “Không có gì,” cô nói. “Tôi…à…Có…” Cô chớp mắt và nhìn xung quanh, như thể cô chỉ vừa nhận ra cô đã chạy vào một cửa hàng dành cho quý ông. “Ồ,” cô nói, kéo dài âm đó hơn những âm khác. “Tôi xin lỗi, Tôi-tôi hình như đã vào nhầm cửa hàng. Ơ…Nếu mọi người thứ lỗi, Tôi sẽ…” Cô nhòm ra ngoài cửa sổ của cửa hàng trước khi đặt tay lên quả nắm cửa. “Tôi sẽ đi bây giờ,” cuối cùng cô kết thúc.

Cô xoay nắm cửa, nhưng cô không thật sự đẩy cửa ra. Cả cửa hàng im re, và mọi người hình như đang đợi cô rời đi, hay nói gì nữa, hoặc làm gì đó. Nhưng cô chỉ đứng đó, không hẳn là đông cứng như bị tê liệt.

Cẩn trọng, Daniel nắm tay cô và dẫn cô tránh xa cửa sổ. “Có lẽ ta có thể giúp?”

Cô quay lại, và anh nhận ra đây là lần đầu tiên cô nhìn thẳng vào anh kể từ khi cô bước vào. Nhưng sự kết nối lướt qua nhanh; cô nhanh chóng chuyển sự chú ý vào cửa sổ của cửa hàng, ngay cả khi cơ thể cô rúm lại tránh xa khỏi đó theo bản năng.

“Chúng ta sẽ phải tiếp tục vào hôm khác,” anh nói với ông Hoby. “Tôi sẽ đưa cô Wynter về nhà trong—“

“Có một con chuột cống,” cô thốt ra. Hơi lớn chút.

Chuột cống?” Một trong những vị khách đứng gần đó rít lên. Daniel không nhớ nổi tên anh ta nhưng anh ta là một gã ăn mặc khó tính, đóng bộ với một cái áo ghi lê màu hồng thêu kim tuyến và cùng màu với cái khóa trên giày anh ta.

“Bên ngoài cửa hàng,” cô Wynter nói, vươn tay về phía cửa trước của cửa hàng, ngón trỏ của cô lắc lư và run rẩy, như thể nỗi ám ảnh của loài gặm nhấm đó quá lố bịch đến nỗi cô không thể bắt bản thân nhận ra nó ngay lập tức.

Daniel thấy tò mò, nhưng dường như không ai khác chú ý thấy câu chuyện của cô đã thay đổi. Làm thế nào cô vào nhầm cửa hàng khi cô đang cố thoát khỏi một con chuột cống.

“Nó chạy ngang qua giày của tôi,” cô nói thêm, và nhiêu đó đủ để gã mang cái khóa màu hồng phải nghiêng ngả.

“Cho phép ta được hộ tống em về nhà,” Daniel nói, sau đó nói to hơn, vì dù sao thì mọi người cũng đang quan sát họ: “Quý cô tội nghiệp này bị hoảng sợ.” Anh  nghĩ rằng nhiêu đó là đủ giải thích rồi, đặc biệt khi anh nói thêm cô là người làm thuê của dì anh. Anh nhanh chóng xỏ lại đôi bốt cũ, rồi cố gắng dẫn cô Wynter ra khỏi cửa hàng. Nhưng chân cô hình như rất miễn cưỡng, khi họ tới cánh cửa, anh nghiêng người và nói nhẹ nhàng, nên không ai nghe thấy được, “Mọi chuyển ổn chứ?”

Cô nuốt xuống, gương mặt đáng yêu của cô cau lại và căng thẳng. “Ngài có xe ngựa chứ?”

Anh gật đầu. “Nó ở ngay ngoài đường.”

“Nó kín chứ?”

Một câu hỏi thật kỳ lạ. Trời không mưa; thậm chí còn không có một gợn mây. “Có thể.”

“Ngài có thể mang nó đến đây không? Tôi không chắc tôi có thể đi bộ.”

Trông cô vẫn đang run rẩy. Daniel lại gật đầu, rồi bảo một người phụ tá của ông Hoby ra ngoài để tìm chiếc xe ngựa của anh. Vài phút sau họ đã náu mình trong chiếc xe ngựa hai mui của anh, với mui xe được đóng kín. Anh cho cô vài phút để trấn tĩnh lại, sau đó nhẹ nhàng hỏi. “Thực sự đã xảy ra chuyện gì?”

Cô nhìn lên, đôi mắt cô – với màu xanh dương đậm đến khó tin – có vẻ hơi ngạc nhiên.

“Có gì đó còn hơn cả một con chuột,” anh lẩm bẩm. “Bự cỡ châu Đại dương ấy, ta nghĩ thế.”

Anh không cố làm cô cười, nhưng dù sao thì cô cũng cười, một nụ cười nhỏ xíu ở khóe môi. Trái tim anh chao đảo, và thật khó hiểu tại sao một thay đổi nhỏ trên mặt cô có thể gây ra cơn bùng nổ cảm xúc trong anh như vậy.

Anh không muốn nhìn thấy cô sầu lo. Giờ anh mới nhận ra điều đó.

Anh quan sát khi cô cố quyết định phải làm gì. Cô không chắc cô có thể tin anh hay không – anh có thể nhìn thấy điều đó trên mặt cô. Cô liếc ra ngoài cửa sổ, nhưng chỉ trong tích tắc, sau đó cô ngồi yên tại chỗ, vẫn nhìn về phía trước. Môi cô run run, cuối cùng, với một giọng nhỏ và ngập ngừng gần như làm vỡ nát tim anh, cô nói, “Có một người…tôi không muốn gặp.”

Không gì nữa. Không giải thích, không bịa đặt, không gì hết ngoài một câu có tám từ làm nảy ra thêm hàng ngàn câu hỏi khác. Dù vậy anh không hỏi. Anh sẽ hỏi, nhưng chưa phải lúc. Đằng nào thì cô cũng không trả lời. Anh ngạc nhiên khi cô đã nói nhiều đến chừng đó.

“Vậy chúng ta rời khỏi đây nhé,” anh nói, và cô gật đầu với vẻ biết ơn. Họ hướng về phía đông trên đường Picadilly – hoàn toàn sai hướng, nhưng trái lại, đó chính xác là những gì Daniel chỉ dẫn cho người đánh xe. Cô Wynter cần bình tĩnh lại trước khi quay lại nhà Pleinsworth.

Và anh vẫn chưa sẵn sàng rời khỏi cô.

Một phút qua đi Anne nhìn đăm đăm ra cửa sổ. Cô không chắc là họ ở đâu, và thành thật mà nói, cô không quan tâm. Đức ngài Winstead có thể mang cô đến Dover và cô sẽ không để ý, chỉ cần họ ở xa, thật xa khỏi Picadilly.

Picadilly và gã đàn ông có thể là George Chervil.

Ngài George Chervil, cô nghĩ giờ hắn ta được gọi như vậy. Thư của Charlotte không đến đều đặn như khao khát của Anne, nhưng chúng vui vẻ và nhiều tin tức, và chúng chỉ kết nối Anne với cuộc đời trước đây của cô. Cha của George đã chết một năm về trước, Charlotte viết thế, và George được thừa hưởng tước hiệu tòng nam tước. Tin tức đó đã khiến máu Anne lạnh ngắc. Lần cuối cùng cô đã khinh miệt ngài Charles, nhưng cô cũng cần ông ta. Ông ta là người duy nhất có thể kiềm giữ bản tính hận thù của con trai mình. Khi ngài Charles qua đời, không còn ai có thể làm cho hắn ta tỉnh ra. Ngay cả Charlott cũng tỏ ra lo ngại; hình như George đã đến nhà Shawcrosses một ngày sau đám tang của cha hắn. Hắn đã cố gắng tỏ ra nó như một cuộc viếng thăm xóm giềng, nhưng Charlotte nghĩ rằng hắn đã hỏi quá nhiều về Anne.

Annelise.

Thỉnh thoảng cô phải nhắc mình nhớ về con người trước đây.

Cô biết có khả năng Geogre có thể ở London. Khi cô đến làm việc cho nhà Pleinsworth, cô đã giả định rằng mình sẽ ở lại Dorset quanh năm. Phu nhân Pleisworth sẽ đưa Sarah đến thành phố vào mùa lễ hội, và ba cô em sẽ trải qua mùa hè ở miền quê cùng với bảo mẫu và gia sư của họ. Và dĩ nhiên cả cha của họ nữa. Đức ngài Pleisworth không bao giờ rời khỏi miền quê. Ông quan tâm đàn chó săn của mình hơn cả mọi người, điều đó với Anne cũng ổn thôi. Nếu ông không vắng mặt, thì ông làm việc khác, gần như là cô làm việc trong một căn nhà toàn là phụ nữ.

Điều đó thật tuyệt vời.

Nhưng sau đó phu nhân Pleisworth quyết định rằng bà không thể làm gì được mà không có các cô con gái của mình, trong khi đức ngài Pleisworth suy nghĩ về các con chó săn và dòng dõi của ông, cả nhà thu dọn hành lí và khởi hành đi London. Anne dành toàn bộ chuyến đi để tự trấn an mình rằng cho dù George có đến thành phố, thì họ sẽ không bao giờ chạm mặt nhau. Đó là một thành phố lớn. Lớn nhất ở châu Âu. Có lẽ là cả thế giới. George có thể đã cưới con gái của một tử tước. Nhưng gia đình Chervil không được gia nhập vào giới cao quý như nhà Pleisworth hay Smythe – Smith. Ngay cả khi họ có mặt tại các sự kiện giống thế, Anne chắc chắn sẽ không thể tham dự. Cô chỉ là một gia sư. Một gia sư vô hình đầy phấn khởi.

Nhưng nó là một mối nguy. Nếu lời đồn của Charlotte là sự thật, George nhận được một khoản trợ cấp hào phóng từ cha vợ. Hắn có dư dả tiền để chi trả cho mùa lễ hội ở thành phố. Thậm chí có lẽ đủ để hắn mua được chỗ trong giới thượng lưu.

Hắn luôn bảo rằng hắn thích sự náo nhiệt của thành phố. Cô nhớ điều đó. Cô xoay xở để quên đi nhiều thứ, nhưng cô nhớ điều đó. Điều đó, cùng với ước mơ của một cô gái được tay trong tay với người chồng đẹp trai đi dạo trong Hype Park.

Cô thở dài. Than khóc cho cô gái chứ không phải ước mơ ngu ngốc của cô. Cô đã từng ngốc nghếch làm sao. Thật là một sự am hiểu tính cách sâu không lường được.

“Ta có thể làm gì để em được thoải mái hơn không?” Đức ngài Winstead lặng lẽ hỏi . Anh đã không nói chuyện được một lúc. Cô thích điều này ở anh. Anh là một người đàn ông niềm nở, dễ giao tiếp, nhưng dường như anh biết khi nào không nên nói.

Cô lắc đầu, không nhìn thẳng anh. Không phải cô đang cố tránh anh. Ừm, chính xác là không phải anh. Cô sẽ tránh bất kì ai vào lúc này. Nhưng sau đó họ di chuyển. Thật sự chỉ là một chuyển động nhỏ thôi, nhưng cô cảm thấy ghế ngồi lắc lư bên dưới họ, nó nhắc cô nhớ rằng anh đã cứu cô chiều nay. Anh đã thấy cô khốn cùng và cứu cô mà không có quá nhiều thắc mắc cho đến khi họ đến xe ngựa.

Anh xứng đáng với lòng biết ơn của cô. Không quan trọng nếu tay cô vẫn còn run rẩy và đầu óc cô vẫn đang chạy đua với những khả năng khủng khiếp. Đức ngài Winstead sẽ không bao giờ biết anh vừa giúp cô nhiều thế nào, hoặc thậm chí cô biết ơn điều đó ra sao, nhưng cô có thể, ít nhất, nói cảm ơn.

Nhưng khi cô quay qua nhìn anh, một câu nói khác nhảy thẳng ra khỏi miệng cô. Cô định nói, Cảm ơn. Nhưng thay vào đó—

“Có phải đó là một vết bầm mới không?”

Đúng vậy. Cô chắc chắn. Nó nằm ngay trên má của anh. Nó hơi hồng, chứ không bầm như những cái gần mắt của anh.

“Ngài làm mình bị thương,” cô nói. “Chuyện gì xảy ra vậy?”

Anh chớp mắt, nhìn khá bối rối, một bàn tay anh chạm lên mặt.

“Phía bên kia,” cô nói, mặc dù cô biết rất là khiếm nhã, nhưng cô vẫn giơ ngón tay ra và nhẹ nhàng chạm vào má anh. “Ngày hôm qua nó không có ở đây.”

“Em để ý,” anh thì thầm, cười với cô theo thói quen.

“Đó không phải là một lời khen,” cô bảo anh, cố không nghĩ đến thế có nghĩa là gì khi khuôn mặt anh trở nên quen thuộc với cô đến nỗi cô để ý thấy một vết mới giữa những vết cũ hậu quả của việc đánh nhau với đức ngài Chatteris. Thật lố bịch. Anh trông buồn cười.

“Tuy nhiên, ta cảm thấy rất hãnh diện khi em để ý thấy vết mới nhất thêm vào bộ sưu tập của ta,” anh nói.

Cô đảo mắt. “Bởi vì thương tích cá nhân là một thứ quý giá để sưu tập chăng.”

“Tất cả các gia sư đều thích mỉa mai à?”

Nếu là ai đó khác thì cô sẽ xem nó như lời cảnh cáo cuối cùng, một lời nhắc nhở về vị thế của cô. Nhưng đó không phải là con người anh. Anh mỉm cười khi anh nói.

Cô lườm anh. “Ngài đang tránh né câu hỏi.”

Cô nghĩ có lẽ trông anh hơi xấu hổ. Thật khó nói; bất kì dấu hiệu đỏ mặt nào trên mặt anh đều bị che đi bởi chủ đề của cuộc trò chuyện này, cụ thể là, các vết bầm tím.
Anh nhún vai. “Hai tên côn đồ tấn công để cướp ví tiền của ta vào tối qua.”

“Ôi, không!” cô thét lên, hoàn toàn bị giật mình bởi hành động kì lạ của bản thân. “Chuyện gì đã xảy ra? Ngài không sao chứ?”

“Không tệ như vậy đâu,” anh chần chừ, “Marcus gây ra nhiều vết thương hơn vào đêm nhạc hội.”

“Nhưng bọn tội phạm thông thường! Ngài có thể bị giết!”

Anh nghiêng về phía cô. Chỉ hơi hơi thôi. “Em sẽ nhớ ta chứ?”

Cô cảm thấy má mình ửng hồng, mất một vài phút để cô có được một biểu hiện nghiêm nghị thích hợp. “Sẽ có nhiều người nhớ ngài,” cô nói chắc chắn.

Bao gồm cả cô.

“Lúc đó ngài đang đi đâu?” cô hỏi. Chi tiết, cô nhắc nhở bản thân. Chi tiết là quan trọng. Chi tiết sống động và khô khan và không liên quan đến cảm xúc hay việc nhớ nhung ai đó hay lo lắng hay quan tâm hay bất kì thứ gì ngoại trừ biết được sự thật. “Có phải ở Mayfair không? Tôi nghĩ nơi đó không quá nguy hiểm.”

“Không phải ở Mayfair,” anh bảo  cô. “Nhưng không xa nơi đó. Ta đang về nhà từ nhà Chatteris. Trời đã khuya. Ta không chú ý.”

Anne không biết nơi bá tước Chatteris sống, nhưng nó không thể nào qua xa so với nhà Winstead. Các gia đình quý tộc sống tương đối gần nhau. Và thậm chí nếu đức ngài Chatteris sống ở rìa các khu vực sang trọng, đức ngài Winstead gần như không cần thiết phải đi bộ qua khu ổ chuột để về nhà.

“Tôi không nhận ra là thành phố đang ngày càng nguy hiểm,” cô nói. Cô nuốt xuống, tự hỏi rằng liệu cuộc tấn công đức ngài Winstead có bất kì liên quan nào đến việc  cô theo dõi tên George Chervil trên phố Piccadilly không. Không, sao có thể? Cô và đức ngài Winstead được nhìn thấy với nhau ở nơi công cộng chỉ có một lần – ngày hôm trước ở công viên Hype Park – và thật rõ ràng với bất kì người xem nào rằng cô là gia sư cho các em họ của anh.

“Tôi đồ rằng tôi phải cảm ơn ngài vì đã khăng khăng đưa tôi về nhà vào đêm đó,” cô nói.

Anh quay qua, xúc cảm mãnh liệt trong mắt anh khiến cô ngưng thở. “Ta sẽ không cho phép em bước hai bước một mình trong đêm, chứ đừng nói gì đến nửa dặm.”

Môi cô hé ra, và cô nghĩ cô định nói chuyện, nhưng những gì cô có thể làm là nhìn chằm chằm. Mắt cô khóa chặt mắt anh, và thật đáng chú ý, bởi vì cô đã không để ý đến màu sắc của mắt anh, màu xanh tươi sáng đáng kinh ngạc. Cô nhìn thấy hơn cả thế, độ sâu của…thứ gì đó. Hoặc có lẽ đó không phải thế. Có lẽ cô mới là người bị lột trần. Có lẽ anh đã thấy tất cả bí mật của cô, nỗi sợ hãi của cô.

Niềm khao khát của cô.

Sau đó cô thở - cuối cùng – cô giật mạnh cái nhìn ra khỏi anh. Đó gì? Hoặc thêm một chuyện nữa, là ai? Bởi vì cô không biết người phụ nữ nhìn chằm chằm vào anh như thể đang nhìn vào chính tương lai của cô ta. Cô không hay tưởng tượng. Cô không tin vào vận mệnh. Và cô chưa bao giờ tin rằng đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Không sau cái cách mà George Chervil đã từng nhìn cô.

Cô nuốt xuống, mất giây lát để lấy lại cân bằng. “Ngài nói như thể ngài có tình cảm đặc biệt với tôi,” cô nói, hài lòng với sự bình thường tương đối trong giọng mình, “nhưng tôi biết ngài nhất định sẽ làm vậy với bất kì phụ nữ nào khác.”

Anh trao cô nụ cười tán tỉnh đến nỗi cô tự hỏi có phải cô đã tưởng tượng ra sự mãnh liệt trong mắt anh chỉ vài phút trước. “Hầu hết các phụ nữ sẽ giả vờ mình được tâng bốc.”

“Tôi nghĩ đây là nơi tôi muốn nói tôi không phải hầu hết phụ nữ,” cô nói cụt lủn.

“Nó chắc chắn sẽ được việc, khi chúng ta ở trên sân khấu.”

“Tôi sẽ nói cho Harriet biết,” Anne cười và nói. “Cô ấy nghĩ mình là một nhà soạn kịch.”

“Lúc này ư?”

Anne gật đầu. “Tôi nghĩ cô ấy đã bắt đầu một tác phẩm mới. Nghĩ có vẻ chán nản lắm. Thứ gì đó về Henry VIII.”

Anh rùng mình. “Thật ghê rợn.”

“Cô ấy cố thuyết phục tôi nhận vai Anne Boleyn .”

Anh nén cười. “Dì tôi không có cách nào trả đủ tiền cho em cả.”

Anne từ chối bình luận câu đó, thay vào đó cô nói. “Tôi rất biết ơn vì ngài quan tâm đến một đêm diễn khác. Nhưng để tâng bốc, tôi thấy ấn tượng với một quý ông coi trọng sự an toàn của tất cả các phụ nữ hơn.”

Anh mất một lúc để ngẫm nghĩ điều đó, rồi anh gật đầu, đầu anh giật sang bên một chút khi anh làm vậy. Anh đang khó chịu. Anne ngỡ ngàng nhận ra. Anh không quen được khen ngợi vì những việc như vậy.

Anne mỉm cười một mình. Có điều gì đó hơi đáng yêu khi nhìn anh ngọ nguậy trên chỗ ngồi. Cô cho rằng anh quen được ca ngợi vì nét quyến rũ hoặc vẻ đẹp trai của mình.

Nhưng vì cách cư xử đúng đắn của anh? Cô cảm thấy có lẽ đã là một thời gian quá dài.

“Đau không?” Cô hỏi.

“Má của ta ư?” Anh lắc đầu, rồi lại phủ nhận chính mình. “Ừm, hơi hơi.”

“Vậy bọn cướp trông tệ hơn ngài chứ?” cô cười nói.

“Ồ, tệ hơn nhiều,” anh nói. “Hơn rất rất nhiều.”

“Đó có phải là mục đích của đánh nhau không? Để làm cho đối thủ chắc chắn trông tệ hơn mình?”

“Em biết đấy, ta nghĩ có thể là vậy. Ngu xuẩn, em có nghĩ vậy không?”Anh nhìn cô với một biểu hiện nặng nề kỳ lạ. “Đó là thứ đã khiến ta phải rời khỏi đất nước.”

Cô không biết hết chi tiết về cuộc đấu súng của anh, nhưng—“Gì cơ?” cô hỏi. Bởi vì thật sự, ngay cả một người trẻ tuổi cũng không ngu ngốc đến vậy.

“Ừ, không chính xác như thế,” anh thừa nhận, “nhưng cũng ngu ngốc y như nhau. Có người gọi ta là kẻ gian lận. Và ta gần như giết chết anh ta vì điều đó.” Anh quay sang cô, mắt anh xoi mói. “Tại sao? Tại sao ta lại làm vậy?”

Cô không trả lời.

“Không phải là ta đã cố gắng để giết anh ta.” Anh ngồi lại trên ghế, chuyển động kỳ quặc mạnh mẽ và đột ngột. “Đó là một tai nạn.” Anh im lặng một lúc, và Anne ngắm nhìn khuôn mặt của anh. Anh không nhìn vào cô khi anh nói thêm, “Ta nghĩ rằng em nên biết.”

Cô biết. Anh không bao giờ là loại người sẽ giết người một cách tầm thường như vậy. Nhưng cô có thể biết anh  không muốn nói gì thêm về nó. Vì vậy, thay vào đó cô hỏi: “Chúng ta đi đâu?”

Anh không trả lời ngay. Anh chớp mắt, rồi liếc ra ngoài cửa sổ, sau đó thừa nhận, “Ta không biết. Ta nói với người đánh xe hãy đi không mục đích cho đến khi nhận được chỉ thị tiếp theo. Ta nghĩ có lẽ em cần thêm một vài phút trước khi trở về  nhà Pleinsworth.”

Cô gật đầu. “Chiều nay tôi được nghỉ. Tôi không nghĩ sẽ về nhà sớm.”

“Em có bất kỳ việc vặt nào cần phải hoàn thành không?"

"Không, tôi--Có!", Cô kêu lên. Trời ơi, làm thế nào mà cô lại quên? "Vâng, tôi có."

Đầu anh nghiêng về phía cô. "Ta rất vui được chở em đến bất cứ nơi nào em muốn đi.”

Cô nắm chặt túi xách của mình, tìm kiếm sự thoải mái trong mớ âm thanh sột soạt của tờ giấy ở bên trong. "Không có gì, chỉ là một lá thư phải được gởi đi."

"Ta có thể đóng dấu miễn cước không? Ta chưa bao giờ xoay xở để có chỗ ngồi trong Thượng viện, nhưng ta cho rằng ta có quyền miễn cước. Cha ta chắc chắn sẽ sử dụng quyền của mình.”

"Không," cô nói một cách nhanh chóng, mặc dù điều này có thể giúp cô khỏi đi một chuyến đến bưu trạm. Chưa kể đến các chi phí cho Charlotte. Nhưng nếu cha mẹ cô nhìn thấy bức thư, đóng dấu miễn cước bởi Bá tước Winstead. . .

Tính tò mò của họ là không có giới hạn.

“Ngài thật tử tế,” Anne nói, "nhưng tôi không thể nào chấp nhận sự hào phóng của ngài."

"Đó không phải là sự hào phóng của ta. Em có thể cảm ơn dịch vụ Thư Hoàng Gia*. "

*Royal Mail là một công ty dịch vụ bưu chính ở Vương quốc Anh. Royal Mail được thành lập năm 1516.

"Tuy nhiên, tôi không thể lạm dụng đặc quyền miễn cước của ngài theo cách như vậy. Nếu ngài chỉ muốn thấy tôi đến một bưu trạm. . .” Cô nhìn ra ngoài cửa sổ để xác định nơi ở chính xác của họ. "Tôi tin rằng có một cái trên đường Tottenham Court. Hoặc nếu không có, vậy thì. . . Oh, tôi đã không nhận ra chúng ta đi rất xa về phía đông. Thay vào đó chúng ta nên đi đến đường High Holborn. Ngay trước khi đến đường Kingsway.”

Im lặng.

“Em có một kiến ​​thức khá toàn diện về các bưu trạm ở London nhỉ,” anh nói.

"Oh. Ừm. Không thực sự.” Cô đã tự cho mình một cú bật tinh thần nhanh chóng và tàn phá não của cô bằng một cái cớ thích hợp. “Chỉ là tôi bị cuốn hút bởi hệ thống bưu chính. Nó thực sự khá tuyệt vời.”

Anh tò mò nhìn cô, và cô không thể biết được liệu anh có tin cô không. May mắn cho cô, đó là sự thật, ngay cả khi cô nói nó để che đậy một lời nói dối. Cô đã nhận thấy Royal Mail khá thú vị. Thật tuyệt vời khi người ta có thể nhanh chóng nhận được thư tín trên toàn quốc. Ba ngày từ London đến Northumberland. Nó dường như là một phép lạ, thực sự.

“Tôi muốn đi theo các lá thư một ngày nào đó,” cô nói, “chỉ đến xem chúng đi đâu.”

"Đến các địa chỉ ghi đằng trước nó, ta nghĩ vậy," anh nói.

Cô mím môi để đáp lại sự châm chọc nho nhỏ của anh, sau đó nói, "Nhưng làm thế nào? Đó là phép lạ.”

Anh mỉm cười một chút. "Ta phải thú nhận, ta đã không nghĩ đến hệ thống bưu chính bằng những từ ngữ thuần Kinh Thánh như vậy, nhưng ta luôn vui vẻ khi được học hỏi.”

"Thật khó tưởng tượng một lá thư được chuyển đi nhanh hơn ngày nay", cô vui vẻ nói, "trừ khi chúng ta học cách bay."

"Luôn luôn có những con chim bồ câu", anh nói.

Cô cười. "Ngài có thể tưởng tượng ra toàn bộ một đàn bồ câu, bay lên bầu trời để chuyển thư của chúng ta à?"

"Đó là một viễn cảnh đáng sợ. Đặc biệt là đối với những người đi bộ bên dưới. "

Điều đó mang lại cười khúc khích khác. Anne không thể nhớ lần cuối cùng cô cảm thấy  vui vẻ như thế này.

"Để High Holborn sau đi," anh nói, "vì ta sẽ không bao giờ cho phép em giao phó bức thư cho đám chim bồ câu của London." Anh nghiêng người về phía trước để mở nắp ở phía trên của cỗ xe, giao chỉ thị cho người đánh xe, sau đó ngồi lại một lần nữa. "Có điều gì khác mà ta có thể giúp em không, cô Wynter? Ta sẵn sàng phục vụ em. "

"Không, cảm ơn. Nếu ngài chỉ cần chở tôi về nhà Pleinsworth. . .”

"Vào đầu buổi chiều? Vào ngày nghỉ của em?”

"Có nhiều việc phải làm tối nay," cô nói với anh. "Chúng tôi đi--Oh, nhưng tất nhiên ngài biết. Ngày mai chúng tôi đi Berkshire, đến…”

“Whipple Hill”, anh bổ sung.

"Phải. Theo gợi ý của ngài, tôi nghĩ vậy. "

"Nó dường như hợp lý hơn so với chuyến đi cả ngày để đến Dordet của các em.”

"Nhưng ngài có—“ Cô ngưng ngang, sau đó nhìn đi chỗ khác. "Đừng bận tâm."

“Em đang hỏi liệu ta có dụng ý đi từ trước không à?” Anh đợi một lúc, rồi nói, "Ta không có."

Đầu lưỡi của cô lao ra để làm ẩm đôi môi của mình, nhưng mà, cô không nhìn anh. Sẽ là quá nguy hiểm. Cô không nên mong  những thứ ngoài tầm với của mình. Cô không thể. Cô đã thử một lần, và cô đã trả giá cho nó từ lúc đó.

Và đức ngài Winstead  rất có thể là giấc mơ bất khả thi nhất trong tất cả. Nếu cô cho phép mình muốn anh, điều đó sẽ hủy hoại cô.

Nhưng ôi, cô muốn anh đến nao lòng.

"Cô Wynter?" Giọng anh ngấm qua cô như một làn gió ấm áp.

“Đó là—“ Cô hắng giọng, cố gắng tìm tiếng nói của mình, tiếng nói thực sự giống như bản thân cô. "Ngài thật tốt khi điều chỉnh lịch trình của mình vì dì của ngài."

"Ta không làm điều đó vì dì của ta," anh nói nhẹ nhàng. "Nhưng ta hy vọng em biết điều đó."

"Tại sao?" Cô hỏi nhẹ nhàng. Cô biết cô sẽ không phải giải thích câu hỏi; anh sẽ biết những gì cô muốn nói.

Không phải tại sao anh làm điều đó. Mà tại sao lại là ?

Nhưng anh không trả lời. Ít nhất là không phải ngay lập tức. Và sau đó, cuối cùng, chỉ khi cô nghĩ cô có thể phải ngẩng lên và nhìn vào mặt anh, anh nói, "Ta không biết."

Sau đó cô chỉ nhìn. Câu trả lời của anh rất thẳng thắn và bất ngờ đến nỗi cô không thể không nhìn. Cô quay mặt vào anh, và khi cô làm, cô bị thu hút bởi một khao khát kỳ lạ và mãnh liệt nhất, chỉ đơn thuần là giơ tay ra và chạm vào anh. Bằng cách nào đó để kết nối với anh.


Nhưng cô không làm. Cô không thể. Và cô biết rằng, ngay cả anh cũng không.

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

The Blessing - Chương 3.1




MÌNH KHÔNG THÍCH ANH TA, AMY NGHĨ KHI CÔ NằM TRÊN GIƯờNG. Vì một số lý do kì lạ, Max vẫn còn đang ngủ; cô có thể nhìn thấy thằng bé nằm thành một đống trong xe đẩy cũ đã từng là của Billy. 

"Mình không thích anh ta, mình không thích anh ta, mình không thích anh ta," cô nói to, sau đó lo lắng liếc nhìn về phía xe đẩy, nhưng Max không nhúc nhích. Cô phải đánh thức thằng bé trong một hoặc hai phút nữa hoặc cô sẽ bị khóc lóc đòi sữa, nhưng thật là tuyệt khi có vài phút để suy nghĩ. 

Khi David đề nghị cô cho phép anh họ đồng tính của anh đến sống với cô trong một tuần, Amy đã sẵn sàng nói không. "Em sẽ cho anh ta ăn gì?" Cô hỏi. "Em chỉ có thể đủ khả năng để nuôi Max và em." 

"Anh ấy, uh, anh ấy. . . Anh ấy thích nấu ăn. Và, ừm, anh chắc chắn rằng anh ấy rất muốn nấu ăn cho ai đó. Anh ấy sẽ mua tất cả mọi thứ em cần,” cái cách David nói làm Amy không tin anh. "Không, thực đấy, anh ấy sẽ làm vậy. Nghe này, Amy, anh biết đây là một sự đòi hỏi quá đáng, nhưng Jason và bạn trai vừa chia tay, và anh họ của anh không có nơi nào để đi. Em sẽ cho anh một ân huệ thật sự đấy. Anh muốn để cho anh ấy ở lại nhà anh, nhưng em biết cha anh nghĩ sao về người đồng tính mà.”

Trên thực tế, Amy chỉ gặp Bertram Wilding một lần duy nhất và cô không biết ông cảm thấy thế nào về bất cứ điều gì ngoại trừ bánh kẹp xúc xích ớt (Ông thích chúng) và bóng bầu dục ( cũng thích nốt ). "Không còn ai khác à? Anh biết tất cả mọi người trong thị trấn,” cô rền rĩ. David rất tốt với cô; anh không bắt cô trả một xu nào cho việc nhiễm trùng tai của Max hoặc việc chích ngừa, và anh gửi y tá của mình đến để giúp đỡ khi Amy bị cúm ba ngày. Thật không dễ dàng để làm một người mẹ đơn thân với một ngân sách eo hẹp, nhưng với sự giúp đỡ của David cô có thể sống sót. Vì vậy, cô nợ anh. 

"Em có một phòng ngủ và em cần anh ấy. Em không kì thị người đồng tính, phải không?” Anh hỏi, ngụ ý rằng anh có thể đã đánh giá sai về cô. 

"Tất nhiên là không. Chỉ là vấn đề của không gian và, ừm, tiền bạc. Em không có đủ khả năng để nuôi anh ta chứ đừng nói gì đến trả tiền giữ trẻ cho anh và”

"Em chỉ cần để đó cho anh", David nói.  “Thực tế thì, để mọi thứ cho anh. Jason sẽ giúp em làm tất cả mọi thứ, và anh ấy sẽ làm cho cuộc sống của em dễ dàng hơn nhiều. Tin anh đi. "

Vì vậy, cô đã tin anh ta, cũng giống như mọi người khác trong thị trấn này tin tưởng anh, và cô nhận được gì? Một người đàn ông cao 1,83 mét thích chế nhạo khiến cô muốn chạy trốn, vậy đấy. Đêm qua, hay đúng hơn, lúc cho ăn vào 2 giờ sáng nay, cô đã phải cắn lưỡi  để tránh nói một lời nhận xét chua cay khi cô nhìn anh ta quan sát ngôi nhà, môi trên anh ta xoắn lại vẻ ghê tởm. Anh ta mặc một bộ đồ trông như thể nó có giá cao hơn ngôi nhà của cô và cô có thể cảm thấy sự coi thường của anh ta. Ngay sau đó cô muốn nói với David hãy đưa anh ta đi, rằng cô sẽ không để cho anh ta đến gần con trai mình.

Rồi sau đó cô  nhớ lại những gì David đã nói với cô về người đàn ông tội nghiệp và trái tim tan vỡ. Nhưng theo Amy anh ta trông không có vẻ phiền muộn bằng cơn giận dữ; giận dữ với cả thế giới, hay có lẽ chỉ đặc biệt giận dữ với cô thôi. Khi anh ta yêu cầu David ra ngoài với anh ta, Amy gần như cài chốt cửa lại để nhốt hai người họ bên ngoài, sau đó quay lại chiếc giường ấm áp của cô.

Nhưng cô không làm, và bây giờ cô sẽ phải dành cả một tuần với gã ngớ ngẩn này, cô nghĩ. Toàn bộ một tuần trong cuộc đời cô bị chế nhạo. Một tuần—

Cô không nghĩ nữa vì qua bức tường mỏng có tiếng động nặng nề của một thứ gì đó rơi xuống, và tiếp theo đó là tiếng thét kinh hoàng của Max. Amy đã ra khỏi giường ngay lập tức và vào phòng ngủ phụ của mình trước khi anh có thể ẵm đứa trẻ lên. 

"Tránh ra", Amy nói, đẩy tay anh, khi cô tóm lấy đứa bé và ôm ấp nó trong lòng. "Im nào, con yêu," cô nói, ôm đứa bé thật chặt, trái tim cô đập thình thịch. Thằng bé đã rơi khỏi giường. Nó có bị đập đầu không? Có ổn không? Chấn động? Tổn thương não? Tay cô lần qua người thằng bé, tìm kiếm chỗ sưng, máu, bất cứ điều gì không ổn. 

"Tôi nghĩ nó chỉ sợ hãi thôi," Jason nói. "Nó rơi xuống gối, hơn nữa, nó mặc đủ quần áo để cô có thể thả nó xuống từ một tòa nhà và nó sẽ không bị tổn thương.” Lúc đó anh đã trao Amy thứ cô tưởng tượng anh nghĩ là một nụ cười. 

Amy nhìn anh trừng trừng. Max đã ngừng khóc và bây giờ đang uốn éo thắt lưng khi cậu nhóc di chuyển đầu xuống, để cho cô biết rằng cậu muốn bú sữa. 

"Ra ngoài," cô nói với Jason. "Tôi không muốn anh ở đây."

Người đàn ông nhìn cô như thể anh ta không hiểu tiếng Anh. 

"Tôi nói ra ngoài. Anh bị đuổi.”

Cô gặp khó khăn để ôm Max khi cậu chúi xuống. "Mang. . . điện thoại của anh và đi đi.” Dễ thấy rằng anh đã đứng bên cửa sổ nói chuyện trong khi anh ta bỏ em bé một mình trên chiếc giường đơn. Cô không muốn để Max cho một người quá bất cẩn như vậy chăm sóc.

"Tôi chưa bao giờ bị đuổi việc trước đây", Jason nói, mắt anh mở to. 

"Luôn có lần đầu tiên cho tất cả mọi thứ." Khi Jason không di chuyển, cô siết chặt môi. "Tôi không có xe, vì vậy nếu anh muốn đi, gọi David. Tôi sẽ lấy số của anh ấy.”

"Tôi biết số của nó," Jason nói khẽ, vẫn đứng đó nhìn cô. 

"Vậy, dùng nó đi!" Cô vừa nói vừa quay đi, vòng tay quanh cơ thể loay hoay của Max. Cô đi hiên ngang vào phòng khách, đặt Max xuống trên hai cái gối ở trường kỷ, để tay sau đầu cậu, sau đó giận dữ tháo chiếc áo ngủ để lộ ngực ra. Max nhanh chóng đút miệng vào, sau đó cậu nằm đó nhìn lên mẹ mình chăm chú, rõ ràng nhận thức được một cái gì đó đang xảy ra. 

"Nghe này, tôi-Oh, xin lỗi," Jason nói khi anh quay lưng lại với cô, và Amy có thể cảm thấy cơn bối rối của anh khi nhìn thấy cô cho con bú. Kéo một tấm chăn em bé từ phía sau trường kỷ, cô che mình và hầu hết người đứa bé lại.

"Tôi muốn một cơ hội thứ hai," Jason nói, vẫn xoay lưng lại với cô. "Tôi đã ở trong. . .” Anh gần như bị nghẹn lời. "Tôi đã sai khi để thằng bé lại một mình trên giường. Nhưng tôi, uh, tôi có ý tốt. Tôi nghe thấy thằng bé, vì vậy tôi đã đưa nó ra khỏi cái cũi của mình. Tôi chỉ muốn cho cô vài giờ để ngủ, đó là tất cả.”

Theo như Amy nghĩ, mọi lời nói phát ra từ miệng của người đàn ông này là một cuộc đấu tranh. Bạn sẽ nghĩ rằng trước đây trong cuộc đời mình anh ta chưa bao giờ xin lỗi. Không, thực ra thì, nghe được điểm nhấn trong giọng của anh ta, bạn sẽ nghĩ rằng anh ta chưa bao giờ làm điều gì sai trái trong cuộc sống của mình trước đây. 

"Anh đang yêu cầu tôi cho một cơ hội thứ hai với mạng sống của con tôi sao?" Cô hỏi bình tĩnh hỏi, vẫn đang nhìn vào lưng anh. 

Chậm rãi, anh quay lại, thấy rằng cô đã được che chắn, sau đó ngồi xuống chiếc ghế hoa hướng dương. "Tôi thường không quá. . . thiếu cảnh giác như vậy. Thông thường, tôi trông nom vài vấn đề trong một lúc và thực hiện chúng cùng một lần. Thông thường, tôi có thể xử lý bất cứ điều gì được ném vào đường đi của tôi. Thực tế thì, tôi tự hào mình có khả năng xử lý bất cứ chuyện gì.”
"Anh không cần phải nói dối với tôi; David đã nói với tôi tất cả mọi thứ.” Khi cô nói như vậy khuôn mặt của người đàn ông biến thành sắc thái kì lạ của hoa oải hương, và cô rút lại lời hứa của mình để tống khứ anh ta đi. Mình không thích anh ta, cô lặp đi lặp lại với chính mình. 



Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2014

The Blessing - Chương 2.2




Khi David không nhúc nhích để rời khỏi cái ghế sofa màu nâu cũ, Jason thúc vào vai em trai mình và kéo anh lên. Một lợi thế Jason có được đó là bất cứ nơi nào anh đi anh luôn chắc chắn có một phòng tập thể dục sẵn sàng để có thể giữ được vóc dáng của mình. David nghĩ rằng đứng trên đôi chân của mình mười bốn giờ một ngày là đủ tập thể dục, vì vậy bây giờ Jason có lợi thế và anh gần như nhẹ nhàng nhấc em trai mình đứng dậy.

“Bọn anh chỉ mất một phút thôi,” David nói, cười với Amy khi Jason gần như kéo lê anh ra khỏi nhà.
Khi họ ở bên ngoài, Jason trừng mắt nhìn em trai mình, giọng anh bình tĩnh và chết người. "Chú đang chơi trò gì thế? Và chú không dám nói dối với anh đâu.”

"Em không thể nói với anh bằng không anh sẽ chạy trở lại chiếc máy bay phản lực chết tiệt của anh. Nhưng thực ra em không thực sự nói dối anh. Em chỉ bỏ qua một số chi tiết. Và chẳng phải anh luôn nói không có ai nắm chắc được điều gì à?”

"Đừng quay chuyện đó ngược trở lại anh. Anh nói chuyện về những người lạ. Anh không nghĩ rằng em trai của mình sẽ--Ôi, quên đi. Chú vào đó và nói với người phụ nữ tội nghiệp kia là có một sai lầm ở đây, và—“

“Anh đang nuốt lại một lời thề thiêng liêng. Em biết anh sẽ làm vậy.”

 Jason nhắm mắt lại một lát để cố gắng lấy lại sức mạnh. "Chúng ta không còn học tiểu học. Chúng ta là người lớn và—“

"Phải rồi," David nói lạnh lùng, sau đó quay về phía chiếc xe đang đợi ở lề đường.

Oh, lạy Chúa, Jason nghĩ. Em trai của anh có thể mang một mối thù đến thiên thu. Bằng một bước, anh bắt lấy tay của David và dừng anh ấy lại. "Chú phải thấy rằng anh không thể thực hiện lời hứa của anh. Anh có thể chăm sóc một cậu bé đang lớn, nhưng điều này. . . David, đây là một đứa trẻ. Nó mặc tã.

"Và anh quá vĩ đại để thay tã, đúng không? Tất nhiên, vĩ đại và giàu có”--anh chế nhạo từ đó—“Jason Wilding quá vĩ đại để thay tã của một đứa trẻ. Anh có biết bao nhiêu lần em phải đi đổ bô? Lồng ống thông nước tiểu? Mà em phải—“

“Được rồi, chú thắng. Chú là thánh David và anh là hiện thân của quỷ dữ. Dù gì đi nữa, anh không thể làm chuyện này.”

“Em biết anh sẽ nuốt lời,” David lầm bầm, rồi đi về phía chiếc xe.

Jason gởi một lời cầu nguyện để xin sức mạnh, sau đó nắm lấy cánh tay David một lần nữa. "Đó là những gì chú đã nói với cô ta?" Anh hỏi trong khi hình dung thư ký của anh bay đến Abernathy và trông chừng thằng bé. Không, là đứa bé.

Mắt David sáng lên. "Em nói với cô ấy anh là anh họ của em và anh đang hồi phục sau một mối tình tan vỡ và đây là Giáng sinh đầu tiên anh trải qua mà không có người yêu của mình, vì vậy anh rất cô đơn. Và căn hộ mới của anh đang được sơn lại, vì vậy anh không có nơi để ở  trong một tuần. Em cũng nói anh yêu trẻ con và cô ấy đồng ý cho anh ở lại với cô ấy trong một tuần và chăm sóc Max trong khi cô ấy tìm công việc vào ban ngày.” David hít lấy một hơi.

Không tệ như những gì Jason nghĩ khi anh nghe lời nhận xét “trái tim tan vỡ” đó.

David có thể thấy anh trai mình đã mủi lòng. “Những gì em cần là một chút thời gian với Amy,” anh nói. “Em điên lên vì cô ấy. Anh có thể thấy cô ấy thật tuyệt vời. Hài hước, can đảm, và—“

“Có trái tim bằng vàng, anh biết.” Jason mệt mỏi nói khi anh đi về phía chiếc xe. Leon đã bước ra và mở cửa xe sau. “Gọi Parker và kêu cô ấy nhanh chóng đến đây,” anh ra lệnh. Thật tuyệt khi được ra lệnh. David làm anh cảm thấy như thể quay lại trường mẫu giáo.

Jason quay qua em trai mình. "Nếu anh làm điều này cho chú, chú sẽ không bao giờ đòi hỏi bất cứ điều gì từ anh một lần nào nữa. Có hiểu không? Đây là một lần và mãi mãi, đặc ân cuối cùng.”
“Danh dự của Hướng đạo sinh”, David nói, giơ hai ngón tay và nhìn rất hạnh phúc đến Jason gần như đã tha thứ cho anh. Nhưng ít nhất bây giờ có tin tốt là  David đã nói dối anh, anh cảm thấy tự do để làm một ít việc dối trá của riêng mình. Anh nhất định sẽ nhờ người thư ký có thẩm quyền của mình bảo lãnh anh thoát khỏi chuyện này.

David có thể nhìn thấy khuôn mặt của anh trai mình rằng Jason sẽ làm điều đó. "Anh sẽ không hối tiếc này. Em hứa với anh."

"Anh hối tiếc rồi đây," Jason lẩm bẩm khi anh theo David trở lại vào nhà. Và khi họ đã vào bên trong, David phải mất khoảng bốn phút trước khi anh cáo lỗi cho mình, nói rằng anh đã phải dậy sớm; sau đó anh để hai người họ lại một mình.

Và đó là lúc Jason cảm thấy đặc biệt khó xử. "Tôi. . . ah. . . "Anh bắt đầu, không biết phải nói gì với người phụ nữ trẻ, người đứng nhìn chằm chằm vào anh như thể cô mong anh nói điều gì đó. Cô muốn gì từ anh? Sơ yếu lý lịch chăng? Như loại tài liệu có thể liệt kê một số công ty Fortune 500 mà anh sở hữu, nhưng nó không nói lên bất cứ điều gì về khả năng của anh - hoặc trong trường hợp này không có khả năng - để thay tã.

Khi Jason không nói gì, người phụ nữ nhẹ cười anh, sau đó nói: "Tôi hình dung rằng anh đang mệt mỏi. Phòng ngủ phụ ở đó. Tôi xin lỗi, nhưng chỉ có một chiếc giường đơn. Tôi chưa bao giờ có khách trước đây.”

Jason  cố gắng cười đáp lại cô. Không phải là lỗi của anh nếu em trai anh đang yêu cô ấy, nhưng, trung thực thì, Jason không nhìn thấy có gì để yêu ở người phụ nữ  này. Cá nhân anh mà nói, anh thích người phụ nữ của mình sạch sẽ và thanh lịch, loại phụ nữ dành cả ngày ở thẩm mỹ viện để từng sợi tóc và lỗ chân lông được chăm sóc kĩ càng.

“Túi xách của anh đâu?”

“Túi Xách?” Anh hỏi, không biết cô đang nói gì. "Ồ, vâng. Hành lý. Tôi để nó ở. . . tại nhà của David. Tôi sẽ lấy nó vào buổi sáng.”

Cô nhìn anh rất khó chịu. “Tôi nghĩ rằng—“ Cô nhìn đi chỗ khác, không kết thúc câu nói của mình. "Phòng ngủ thông qua đó, và có một phòng tắm nhỏ. Nó không nhiều nhưng—“ Cô ngừng sững lại như thể cô không thể để mình xin lỗi vì sự thiếu thốn của căn phòng.

"Chúc ngủ ngon, anh Wilding," cô nói, rồi quay gót và đi qua cánh cửa khác.

Jason không quen bị người khác tản lờ. Trong thực tế, anh quen người ta xua nịnh mình hơn, khi họ thường muốn một cái gì đó từ anh. "Phải," anh lẩm bẩm. "Chúc ngủ ngon." Sau đó, anh đi vào căn phòng cô đã chỉ định. Căn phòng, nếu có thể, tồi tệ hơn phần còn lại của ngôi nhà. Giường đặt ở giữa phòng, với một cái chăn sạch sẽ, sờn cũ màu đỏ và trắng trải lên nó. Đồ nội thất duy nhất khác trong phòng là một hộp các tông lật ngược với một cái đèn trên đó mà trông như thể Edison có thể sử dụng nó. Có một cửa sổ nhỏ không có màn cửa và hai cửa ra vào, một cửa trông như thể nó dẫn đến một tủ quần áo và cánh cửa còn lại dẫn vào phòng tắm. Bên trong căn phòng được lát gạch màu trắng, một nửa của nó bị nứt.

Mười phút sau, Jason đã cởi hết quần áo lót của mình và đang lúi húi dưới chăn. Ngày mai anh sẽ bảo thư ký mua cho anh một tấm chăn điện.

 Không hơn một giờ sau, anh bị đánh thức bởi một âm thanh. Đó là một tiếng cào theo sau bởi một cái gì đó nghe như giấy bị nhàu nát. Anh luôn là một người thính ngủ, nhưng những năm đi máy bay phản lực đã làm cho mọi việc tồi tệ hơn; hiện nay anh đã gần như mất ngủ. Lặng lẽ, chân trần, anh bước vào phòng khách. Có đủ ánh trăng để anh có thể thấy những đường nét của đồ nội thất và giữ cho anh khỏi đụng vào chúng. Trong một lúc  anh đứng yên lắng nghe. Những âm thanh phát ra từ phòng của người phụ nữ.

Do dự, anh đứng bên ngoài cánh cửa mở. Có lẽ cô đang làm một cái gì đó riêng tư, nhưng mắt anh tự điều chỉnh để anh có thể nhìn thấy cô trên giường, thấy cô đang ngủ. Cảm giác như một kẻ tọc mạch, anh quay đi để trở lại giường của mình, nhưng sau đó âm thanh đến một lần nữa. Nhìn vào bóng tối, anh trông thấy thứ nhìn như cái cũi ở trong góc, nhưng khi anh chớp mắt, anh nhìn thấy đó là một xe đẩy bằng gỗ cổ điển và ngồi trên đó là thứ dường như giống một con gấu con.

Jason chớp mắt, lắc đầu, sau đó nhìn lại khi gấu con quay đầu và cười toe toét với anh. Anh rõ ràng có thể nhìn thấy hai hàm răng lấp lánh trong ánh sáng màu bạc nhạt.

Không nghĩ mình đang làm gì, Jason nhón chân vào phòng và cúi xuống đứa trẻ. Anh hoàn toàn mong đợi đứa trẻ kêu thét lên, nhưng nó không làm. Tuy nhiên, em bé đã chộp lấy khuôn mặt của Jason và nhéo theo cái cách làm mắt anh rơm rớm vì đau.

Sau khi kéo hai bàn tay nhỏ khỏi khuôn mặt mình, Jason mang đứa bé trở lại phòng riêng  và đặt nó xuống chiếc giường đơn, kéo chăn cho đứa bé, sau đó nói nghiêm khắc, "Bây giờ đi ngủ." Em bé chớp mắt lên nhìn anh một vài lần, vì lăn lộn xung quanh nên đứa bé nằm chéo trên giường, và nhanh chóng đi ngủ.

"Không tệ," Jason nói trong lúc tự thán phục thành tựu của mình. Không tệ chút nào. Có lẽ David đã đúng khi nói rằng anh trai mình luôn có cách với trẻ em. Quá tệ là Jason đã không sử dụng giọng điệu cứng rắn nhất của mình với thằng bé tệ hại kia nhiều năm về trước. Có lẽ. . .

Anh chững lại khi anh nhận ra rằng bây giờ anh không có chỗ để ngủ. Ngay cả khi anh đã xoay đứa trẻ lại, giường quá hẹp cho cả hai người họ khi đứa trẻ mập mạp như một con gà tây Giáng sinh. Đừng hỏi tại sao ấn tượng đầu tiên của anh về thằng nhóc là một con gấu con.

Giờ thì sao? Jason nghĩ, nhìn vào đồng hồ. Giờ là 04:00 sáng và New York không mở cử, vì vậy anh không thể làm bất kỳ công việc gì. Ah, anh nghĩ, New York có thể đóng cửa, nhưng London đã mở rồi.


Sau khi mặc áo len để khỏi bị lạnh, anh lấy điện thoại di động của mình từ túi áo khoác và đi đến cửa sổ, nơi tín hiệu sẽ tốt hơn, và quay số. Năm phút sau đó, anh đã kết nối với một cuộc gọi hội nghị với người đứng đầu một công ty lớn mà Jason đã mua gần đây. Trong hoạt cảnh anh có thể nghe thấy âm thanh của một bữa tiệc Giáng sinh văn phòng, và anh có thể nói rằng các giám đốc đang khó chịu và mất vui, nhưng nó không quan trọng với Jason. Kinh doanh là kinh doanh, và họ nhận ra được càng sớm càng tốt.

Hết chương 2

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

The Blessing - chương 2.1





Căn nhà Salma cũ còn tệ hơn anh nhớ. Nó không có được một lớp sơn trong ít nhất mười lăm năm, cái mái hiên đang bị võng xuống một bên. Và từ những gì anh có thể thấy dưới ánh trăng, anh không nghĩ mái nhà sẽ giữ khô ráo được cho bất cứ ai.

“Thấy chưa, em bảo anh rồi,” David hăm hở nói, hình như không biết gì về tình trạng của ngôi nhà. “Đèn còn sáng. Thằng bé không bao giờ ngủ; nó làm mẹ nó thức trắng đêm.”

Jason liếc nhìn em trai và nghĩ rằng anh phải kéo em trai mình ra khỏi người đàn bà này càng sớm càng tốt.

"Đi nào," David nói, đã ra khỏi xe và nửa chừng bước lên vỉa hè bị hư hỏng và dẫn đến một hàng rào đã sụp xuống được một nửa. “Anh có e ngại chuyện này không? Nếu anh--"

“Nếu anh có, chú sẽ dám thế chỗ anh, phải không?” Jason nói với một bên mày nhướng lên.

David cười toe, răng anh sáng lên dưới ánh trăng; sau đó anh nửa đi nửa chạy lên mái hiên dẫn đến cửa trước. “Đừng bước lên đó, nó—Ô, xin lỗi, anh có bị thương không? Căn nhà này cần tu sửa.”

Xoa xoa đầu bị tấm ván của mái hiên đập vào, Jason nhăn mặt với em trai. “Ừ, giống Frankenstein cần vài sự điều chỉnh.”

Nhưng hình như David không nghe anh trai nói khi anh háo hức gõ cửa, sau vài giây một người phụ nữ trẻ ra mở cửa…Miệng Jason hé ra vẻ hoài nghi, vì người phụ nữ này không phải là những gì anh mong đợi.

Amy không phải là một mỹ nhân ngư dụ dỗ đàn ông đến với mình, cô cũng không truyền cảm hứng cho những bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của cô. Cô cũng không phải lo lắng về việc đàn ông sẽ quỵ dưới chân cô vì ham muốn. Cô có mái tóc đen dài, trông nó cần được gội rửa, được búi ở sau gáy cô. Cô không trang điểm, làn da màu ngà nhợt nhạt của cô có một vài đốm trắng trên cằm. Đôi mắt đen của cô thật lớn, gần như nuốt chửng cả khuôn mặt trái xoăn; chúng chắc chắn bị lu mờ vì cái miệng nhỏ xinh của cô. Còn về cơ thể, cô thấp và mảnh mai, và từ cái cách xương cô lòi ra từ dưới quần áo, cô cần một bữa ăn ngon. Thứ duy nhất trông đầy đặn chính là ngực cô, chúng thật lớn – và được đánh dấu bằng hai vòng tròn lớn ẩm ướt.

“Chết tiệt!” Cô nói khi cô nhìn xuống chính mình, sau đó cô chạy vội vào trong nhà. “Vào đi, David, hãy tự nhiên như ở nhà! Max – ơn Chúa -  ngủ được một lúc rồi. Em ắt sẽ lấy rượu gin cho anh, nhưng mà em không có chai nào hết, nên có thể anh nên tự bằng lòng với rượu randy 50 năm tuổi, mà cái đó em cũng chẳng có luôn.”

“Cảm ơn,” David rạng ngời nói. “Trong trường hợp này thì anh nghĩ anh sẽ uống sâm panh.”

“Đổ cho anh một ca đầy nữa,” giọng nói vang lên từ chỗ tối ở cửa ra vào.

David nhìn Jason như thể để nói, Cô ấy không phải là người ngọt ngào nhất mà anh từng gặp à?

Nhưng Jason đang nhìn xung quanh căn phòng. Đã rất lâu rồi kể từ khi anh rời khỏi cái mà David gọi là ‘căn nhà trong mây’, “Anh đã sống quá nhiều trên máy bay phản lực cá nhân, khách sạn cá nhân và bất cứ thứ cá nhân gì đó đến nỗi anh quên mất phần còn lại của thế giới ra sao,” David cũng thường nói như vậy. Nên lúc này, Jason nhìn quanh căn phòng với sự chán ghét. Tồi tàn là từ đầu tiên anh nghĩ đến. Mọi thứ trông như thể chúng đến từ Goodwill: không có cái gì khớp với nhau, không có cái gì hợp với cái gì. Có một cái đi văng xấu xí bọc vải màu nâu sờn, một cái ghế cũ gớm guốc được bộc trong một thứ giống như là vải in hoa hướng dương và lá chuối. Cái bàn cà phê là một trong những cái ống lăn gỗ lớn bị bỏ đi, ai đó đã sơn lên nó cái màu kì lạ của hoa vân anh.

Điều tử tế nhất mà Jason có thể nghĩ về nó đó là trông nó giống nơi mà Billy Thompkin sẽ sống.

David húc vào sườn anh trai và hất đầu về phía cửa ra vào. “Ngừng giễu cợt đi,” anh nói nhỏ; sau đó hai người đàn ông nhìn lên khi Amy quay lại phòng.

Cô hiện ra từ phòng ngủ với một cái áo sơ mi nhăn nheo và khô ráo, hầu hết các đốm bẩn trên cằm cô đã biến mất. Khi nhìn thấy Jason nhìn đăm đăm vào mình, cô chùi thêm lần nữa, loại bỏ các đốm bẩn còn lại, sau đó trưng ra một nụ cười nửa miệng và nói, "Cháo em bé. Nếu thằng bé ăn được nhiều như nó trét vào người tôi thì nó sẽ là một chú heo nhỏ mập mạp.”

"Đây là anh họ của anh Jason," David nói. "Em biết mà, người mà anh đã nói với em. Anh ấy sẽ rất biết ơn nếu em để cho anh ấy ở lại đây cho đến khi trái tim anh ấy lành lại.”

Tuyên bố này gây choáng váng đến nỗi những gì Jason có thể làm là nhìn chằm chằm vào em trai mình.

"Vâng, tất nhiên. Em hiểu,” Amy nói. "Vào đây và ngồi xuống nào." Cô nhìn Jason. "Tôi xin lỗi vì lúc này Max không còn thức, nhưng anh sẽ gặp thằng bé trong khoảng ba tiếng nữa. Tôi có thể đảm bảo với anh điều đó,” cô cười, nói.

Jason bắt đầu đánh hơi thấy một con chuột. Và con chuột đó chính là em trai anh. Đứa em trai anh đã nâng đỡ. Đứa em trai anh luôn luôn yêu thương và ấp ủ. Là người anh có thể chết vì nó. Đứa em đó hình như đã định ra một sự thật về anh.

Rất lâu về trước Jason đã hiểu ra rằng nếu anh im miệng đủ lâu, anh sẽ tìm hiểu được những gì anh cần biết. Nhiều lần sự im lặng của anh đã đạt được những gì mà lời nói không thể làm, vì vậy anh ngồi im và lắng nghe.

“Tôi mang trà cho anh nhé?” Amy hỏi. “Nếu tôi không có sâm panh, tôi có trà. Tôi có trà hoa cúc và lá mâm xôi. Không, loại đó thích hợp với sữa hơn, và tôi nghi ngờ liệu một trong hai anh cần thứ đó,” cô nói, mỉm cười với Jason như thể anh biết tất cả những gì đang diễn ra.

Và Jason thật sự bắt đầu hiểu ra. Bây giờ anh nhận thấy một vài điều về căn phòng mà anh đã bỏ qua trước đây. Trên sàn nhà là một con hổ nhồi bông. Không, đó là nhân vật Tigger từ phim hoạt hình Winnie-the-Pooh, và có một cuốn sách bọc vải dựa vào cạnh của cái ghế hướng dương.

“Con trai cô bao nhiêu tuổi?” Jason hỏi, hàm nghiến lại.

“Hôm nay nữa là hai mươi sáu tuần,” Amy tự hào nói. “Sáu tháng.”


Jason lia đôi mắt sắc lẻm qua em trai mình. “Anh có thể gặp chú ngoài kia không?” Anh nhìn Amy. “Cô thứ lỗi cho chúng tôi.”