Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

A night like this - chương 13









Ôi trời,” Anne nói, hơi rùng mình khi cô ngồi xuống. Cô đã mặc áo khoác, nhưng cổ tay áo không vừa khít, và cơn mưa đã chảy vào tay áo của cô. Bây giờ khuỷa tay áo cô ướt sũng và đôi bốt cô lạnh cóng. “Thật khó mà tưởng tượng giờ đã gần đến tháng năm.”

“Trà không?” Daniel hỏi, ra hiệu cho chủ nhà trọ.

“Vâng. Hoặc thứ gì đó nóng.” Cô lột găng tay, dừng lại để cau mày với một lỗ thủng trên đầu ngón trỏ phải của chiếc găng. Không thể nào. Cô cần tất cả phẩm giá mà cô có thể tập trung bằng ngón tay đó. Có trời biết cô khá thường xuyên rung lắc ngón tay đó trước mặt các cô gái.

“Có gì không ổn sao?” Daniel hỏi.

“Gì cơ?” Cô nhìn lên và chớp mắt. Ôi, ắt hẳn anh đã thấy cô nhìn chăm chú cái găng tay. “Chỉ là găng tay của tôi thôi.” Cô giơ nó lên. “Có một cái lỗ nhỏ ở đường chỉ. Tôi phải khâu nó lại vào tối nay.” Cô kiểm tra nó kĩ hơn trước khi để nó xuống cái bàn bên cạnh cô.  Một cái găng chỉ có thể nhận các vết khâu nhất định, và cô ngờ rằng găng tay của cô đã đến giới hạn của nó.

Daniel gọi chủ quán trọ cho hai tách trà, rồi quay lại với cô. “Với nguy cơ tiết lộ rằng ta không biết nhiều lắm về thực tại đời sống của người làm thuê,  ta phải nói rằng ta thấy khó mà tin rằng dì ta trả không đủ tiền để em mua một đôi găng mới.”

Anne khá chắc là anh không biết, hoàn toàn mù tịt về thực tại đời sống của người làm thuê, nhưng cô đánh giá cao việc anh công nhận sự thâm hụt tiền bạc. Cô cũng ngờ rằng anh hoàn toàn mù tịt về giá của một đôi găng tay, hoặc thứ gì đó khác, vì lí do đó. Cô từng đi mua sắm với tầng lớp thượng lưu thường xuyên để biết rằng họ không bao giờ bận tâm hỏi giá của bấn kì thứ gì. Nếu họ thích, họ mua chúng và hóa đơn được gởi đến nhà họ, nơi mà ai đó khác sẽ đảm nhận việc chúng được chi trả.

“Đúng vậy,” cô nói với anh. “Bà ấy trả đủ tiền cho tôi. Nhưng anh không nghĩ là cần phải có đức tính tiết kiệm à?”

“Không nếu điều đó có nghĩa ngón tay em bị đông cứng.”

Cô mỉm cười, có lẽ có hơi kẻ cả. “Khó mà đến mức đó. Đôi găng này có ít nhất một hoặc nhiều hơn hai vết khâu rồi.”

Anh quắc mắt. “Em đã khâu chúng bao nhiêu lần?”

“Ôi trời ạ, tôi không biết. Năm? Sáu?”

Biểu hiện của anh chuyển sang hơi phẫn nộ. “Hoàn toàn không thể chấp nhận được. Ta sẽ thông báo cho dì Charlotte rằng bà phải cung cấp cho em một tủ quần áo đầy đủ.”

“Ngài sẽ không làm một chuyện như vậy,” cô vội vã nói. Chúa ơi, anh bị điên sao? Một biểu hiện hứng thú thái quá từ anh, và Anne sẽ bị đuổi ngay. Đã đủ tệ khi cô đang ngồi với anh trước mặt cả ngôi làng trong quán trọ nhỏ, nhưng ít nhất cô có thể đổ lỗi cho thời tiết xấu. Cô khó mà bị trách móc vì đã trú mưa.

“Tôi chắc với ngài,” cô nói, ra dấu về đôi găng, “chúng vẫn còn tốt hơn của nhiều người.” Mắt cô rơi xuống cái bàn chỗ đôi găng tay của anh, được làm từ da thuộc xa xỉ lộng lẫy, được chất thành đống mà không ai quan tâm. Cô hắng giọng. “Ngoại trừ người ở trước mặt tôi.”



Anh khẽ nhúc nhích trong chỗ ngồi.

“Dĩ nhiên có thể găng tay của ngài cũng được vá đi vá lại vài lần,” cô nói thêm mà không suy nghĩ. “Sự khác biệt duy nhất là người hầu của ngài sẽ nhanh chóng mang nó đi trước khi ngài có thể chú ý đến.”

Anh không nói gì, lặp tức cô thấy ngượng vì lời bình luận của mình. Mặt trái của kiêu căng cũng không tệ như thực tế**, nhưng mà, cô phải làm tốt hơn thế. “Xin thứ lỗi cho tôi,” cô nói.

Anh nhìn cô chăm chú trong một lúc, sau đó anh hỏi, “Tại sao chúng ta lại nói về găng tay vậy?”

“Tôi không biết.” Nhưng điều đó không hẳn đúng. Có lẽ anh là người khởi xướng trước, nhưng cô không cần nói ra điều đó. Cô muốn nhắc anh về sự khác biệt về địa vị của họ. Hoặc có lẽ là cô muốn nhắc nhở chính mình.

“Nói vậy đủ rồi,” cô lanh lợi nói, vẫy tay cho qua chuyện đôi găng tay. Cô lại ngước lên nhìn anh, định nói gì đó về chủ đề vô hại như thời tiết, nhưng anh đang mỉm cười tít mắt với cô và—

“Tôi nghĩ ngài đang lành lại,” cô nói. Cô không nhận ra mấy vết bầm bao quanh mắt anh bị sưng như thế nào, nhưng giờ chúng đã biến mất, nụ cười của anh khác đi. Thậm chí có lẽ là còn vui sướng hơn.

Anh chạm vào mặt mình. “Má của ta sao?”

“Không, là mắt anh. Vẫn còn hơi bị bầm, nhưng không còn sưng nữa.” Cô mỉm cười vẻ hối tiếc với anh. “Má anh trông cũng vậy.”

“Thật sao?”

“Ừm, thật ra là tệ hơn, rất tiếc phải nói vậy, nhưng cũng phải thôi. Những vết thương thế này trông tệ hơn trước khi chúng khá lên.”

Anh nhướng mày. “Và làm thế nào mà em lại hiểu rõ về mấy vết bầm và trầy sướt vậy?”

“Tôi là gia sư,” cô nói. Bởi vì thật sự, điều đó đủ để giải thích rồi.

“Phải, nhưng em dạy ba cô gái—“

Cô cười, gần như ngắt lời anh. “Ngài nghĩ các cô gái đó không bao giờ bày trò à?”

“Ta biết chúng có.” Anh vỗ một tay lên trái tim mình. “Năm chị em gái. Em biết chuyện đó không? Năm đấy.”

“Ngài đang cầu xin lòng thương hại đấy à?”

“Chắc chắn nên thế,” anh nói. “Nhưng mà, ta không thể nhớ họ có bao giờ gây họa không?”

“Phân nửa thời gian Frances nghĩ mình là kì lân,” Anne nói rõ ràng. “Hãy tin khi tôi nói rằng cô bé giành được nhiều các vết va chạm và vết bầm như bất cứ ai. Hơn nữa, tôi cũng dạy cho các cậu bé. Ai đó nên hướng dẫn cho chúng trước khi chúng đến trường.”

“Ta nghĩ vậy,” anh nói với một cái nhún vai nhượng bộ. Sau đó, nhướng mày châm biếm, anh nghiêng về trước và lẩm bẩm, “Liệu có thích hợp không khi ta cảm thấy cực kỳ thỏa mãn khi em chú ý đến gương mặt ta kĩ thế?”

Anne bật cười. “Không thích hợp và thật lố bịch.”

“Đúng là ta chưa bao giờ cảm thấy quá nhiều màu sắc như thế,” anh nói, với một tiếng thở dài rất kịch.

“Ngài thật sự là một cái cầu vồng,” cô đồng tình. “Tôi thấy màu đỏ và…ừm, không có màu cam và vàng, nhưng chắc chắc chắn có màu lục , xanh và tím.”

“Em quên mất màu chàm.”

“Không có,” cô nói với tông giọng gia sư tốt nhất của mình. “Tôi luôn thấy thật ngu ngốc khi thêm màu đó vào quang phổ. Ngài có bao giờ thật sự nhìn thấy một cái cầu vồng chưa?”

“Một hai lần gì đó,” anh đáp, trông hơi thích thú vì sự cường điệu của cô.

“Đã đủ khó để chú ý đến sự khác nhau của màu xanh và tím, đừng nói gì đến màu chàm ở chính giữa.”

Anh ngừng lại trong một lát, sau đó, môi anh rúm lại với sự hóm hỉnh, “Em suy nghĩ về chuyện đó nhiều quá.”

Anne bậm môi, cố không cười lại anh. “Đúng vậy,” cuối cùng cô nói, sau đó cô bật cười. Đây là một cuộc trò chuyện mắc cười nhất và cũng thật đáng yêu.

Daniel cười với cô, và hai người ngồi lại khi một người phục vụ đi đến với hai tách trà bốc khói. Anne lập tức vòng tay quanh tách trà của cô và thở ra hài lòng khi hơi ấm thấm qua da cô.

Daniel nhấp một ít, rùng mình khi chất lỏng nóng hổi đi qua họng anh, sau đó uống thêm một ít. “Ta nghĩ ta trông rất bảnh bao,” anh nói, “những vết sướt và vết bầm đó. Có lẽ ta nên viết câu chuyện về việc ta bị thương như thế nào. Đánh nhau với Marcus không có chút hào hứng gì cả.”

“Đừng quên những tên cướp đường,” cô nhắc anh.

“Và chuyện đó,” anh đáp bằng giọng khô khốc, “không có phẩm giá.”

Cô mỉm cười. Thật là một người hiếm có khi tự chế giễu chính mình.

“Em nghĩ sao?” anh hỏi, quay sang như thể để làm dáng. “Ta có nên nói ta đã vật lôn với một con gấu không? Hoặc là chiến đấu với bọn hải tặc bằng dao?”

“Cũng còn tùy,” cô trả lời. “Ngài có dao hay bọn hải tặc có?”

“Bọn hải tặc, ta nghĩ vậy. Sẽ ấn tượng hơn nếu ta cướp chúng bằng tay không.” Anh vẫy tay như thể đang luyện tập vài kĩ năng phương Đông cổ xưa.

“Ngừng ngay,” cô cười. “Mọi người đang nhìn ngài kìa.”

Anh nhún vai. “Cứ để họ nhìn. Ta đã không ở đây suốt ba năm qua.”

“Phải, nhưng họ sẽ nghĩ ngài là tên điên.”

“À, nhưng ta được cho là một gã lập dị mà.” Anh cười đểu với cô và nhướng mày lên xuống. “Đó là một trong những đặc quyền của tước hiệu.”

“Không phải là tiền và quyền lực sao?”

“Những thứ đó nữa,” anh thừa nhận, “nhưng bây giờ ta đang hưởng thụ sự lập dị. Vết bầm là nguyên do, em có nghĩ vậy không?”

Cô đảo mắt, hớp một ngụm trà khác.

“Có lẽ là một vết sẹo,” anh lỡ đễnh, quay qua để chìa má ra cho cô. “Em nghĩ sao? Ngay bên phải. Ta có thể--“

Nhưng Anne không nghe những từ còn lại của anh. Cô chỉ nhìn bàn tay anh, trượt dọc từ thái dương xuống cằm anh. Một vết xiên dài và dữ tợn, giống như—

Cô đã thấy nó—mặt của George khi hắn xé miếng băng khỏi mặt trong phòng làm việc của cha hắn.

Và cô cảm thấy nó, cú đâm khủng khiếp của con dao khi nó đâm qua da hắn.

Cô nhanh chóng quay người, cố gắng thở. Nhưng vô ích. Như thể phổi của cô bị kẹp chặt, một khối vô hình đè nặng lên lồng ngực cô. Cô bị ngạt thở và đuối sức cùng lúc, khao khát có không khí. Ôi, chúa ơi, sao nó lại xảy ra vào lúc này? Đã nhiều năm trôi qua kể từ khi cô cảm thấy loại khiếp sợ tức thời như vậy. Cô nghĩ cô đã vượt qua nó.

“Anne,” Daniel cấp bách nói, vươn người qua bàn để nắm tay cô. “Có gì không ổn sao?”

Như thể cái chạm của anh phá tan một loại kềm kẹp nào đó, bởi vì cả cơ thể cô đột nhiên giật nảy với một hơi thở dài và rối loạn. Các cạnh màu đen từng ép chặt tầm nhìn của cô đã mờ dần và biến mất, một cách từ từ, cô cảm thấy cơ thể mình trở lại bình thường.

“Anne,” anh lại nói, nhưng cô không nhìn anh. Cô không muốn nhìn khuôn mặt thắc mắc của anh. Anh đã đùa cợt, cô biết rõ điều đó. Làm sao cô có thể giải thích cái phản ứng thái quá đó được?

“Trà,” cô nói, hy vọng anh không nhớ cô đã đặt tách trà xuống khi anh nói. “Tôi nghĩ—“ Cô ho, và cô không phải đang nói dối. “Tôi nghĩ trà bị hỏng rồi**.”

Anh chăm chú quan sát mặt cô. “Em chắc không?”

“Hoặc có lẽ do trà quá nóng,” cô nói, vai cô run lẩy bẩy với một cái nhún vai bồn chồn. “Nhưng tôi gần như khỏe lạ rồi, tôi chắc đấy.” Cô cười, hay ít nhất là cố cười. “Thật xấu hổ, thật đấy.”

“Ta có thể làm gì giúp em không?”

“Không, tất nhiên không.” Cô quạt cho mình. “Ôi trời, đột nhiên tôi thấy nóng. Còn ngài?”

Anh lắc đầu, mắt anh chưa từng rời mặt cô.

“Trà,” cô nói, cố gắng nghe thật hăng hái và vui tươi. “Như tôi nói, trà khá nóng.”

“Đúng vậy.”

Cô hắng giọng. Anh đã nhìn thấu hành động của cô, cô chắc thế. Anh không biết sự thật, chỉ vì cô không nói ra. Và lần đầu tiên kể từ khi cô rời khỏi nhà tám năm trước, cô cảm thấy hối hận dày vò sự im lặng của mình. Cô không việc gì phải chia sẻ bí mật với người đàn ông này, và giờ cô ở đây, cảm thấy trốn tránh và tội lỗi.

“Ngài có nghĩ thời tiết đã khá hơn chưa?” cô hỏi, quay qua nhìn cửa sổ. Khó mà nói được; cửa kính đã cũ và dợn sóng, và mái che rộng lớn của nhà trọ nhô ra hướng thẳng vào cơn mưa xối xả.

“Chưa đâu,” anh đáp.

Cô quay lại, lầm bầm. “Không, dĩ nhiên.” Cô chỉnh lại nụ cười trên khuôn mặt. “Dù sao thì tôi nên uống hết tách trà của mình.”

Anh hiếu kỳ nhìn cô. “Em không còn thấy nóng nữa à?”

Cô chớp mắt, mất một lúc mới nhớ cô đã quạt mình một vài phút trước. “Không,” cô nói. “Đùa ấy mà.” Cô lại cười và nâng tách trà lên môi. Nhưng cô được cứu khỏi phải tìm cách để cuộc trò chuyện quay về như trước đó bởi một tiếng động lớn ở ngoài phòng ăn.

“Đó là gì thế?” Anne hỏi, nhưng Daniel đã đứng dậy.

“Ở đây,” anh ra lệnh, và nhanh chóng sải bước về phía cửa. Anh trông căng thẳng, và Anne thấy gì đó quen thuộc trong bóng dáng của anh. Thứ gì đó cô thường xuyên nhìn thấy ở chính mình. Cứ như thể anh đã tiên liệu sẽ có rắc rối. Nhưng như thế thật vô nghĩ. Cô nghe nói người đàn ông khiến anh rời bỏ đất nước đã từ bỏ sự trả thù của ông ta.

Nhưng cô cho là những thói quen cũ khó mà từ bỏ. Nếu George Chervil đột nhiên bị mắc xương gà hoặc chuyển đi đến Đông Ấn, mất bao lâu cô sẽ ngừng nhìn lại qua vai mình?

“Không có gì,” Daniel nói, quay lại bàn. “Chỉ là một gã say rượu cố gắng phá hoại từ quán trọ đến chuồng ngựa và trở lại.” Anh lấy tách trà của mình, uống một ngụm lớn sau đó nói thêm, “Nhưng cơn mưa đã ngớt. Vẫn còn mưa phùn, nhưng ta nghĩ chúng ta nên đi sớm.”

“Vâng,” Anne nói, đứng dậy.

“Ta đã bảo họ mang xe ngựa đến,” anh nói, hộ tống cô đến cửa.

Cô gật đầu với anh khi cô bước ra ngoài. Không khí trong lành đang bao phủ, và cô không thấy lạnh. Có một chất làm sạch để sương mù lạnh lẽo, và nó khiến cô cảm thấy là chính mình hơn.

Và sau đó, trong một giây phút, đó là một người tệ hại làm sao.

Daniel không biết chuyện gì xảy ra với Anne trong phòng ăn. Anh cho rằng có thể cô đã thật, nhưng cô đã uống một ít trà. Anh cũng uống trước đó, và chắc chắn trà có thể làm một thi thể bật ho, đặc biệt là khi trà đang nóng.

Nhưng cô trông cực kì nhợt nhạt, và mắt cô—trong giây phút ngắn ngủi trước khi cô quay đi—trông như bị truy lùng. Kinh hãi.

Điều đó làm anh nhớ lại khi anh gặp cô ở London, khi cô vọt vào tiệm Hoby, trông sợ hãi tột độ. Cô nói cô đã thấy ai đó. Hay đúng hơn cô nói có ai đó mà cô không muốn gặp.

Nhưng đó là London. Đây là Berkshire, hơn nữa, họ đã ngồi trong một quán trọ đầy dân làng mà anh đã biết từ khi sinh ra. Không có một linh hồn nào trong phòng có thể làm hại đến một sợi tóc trên đầu cô.

Có lẽ là trà. Có lẽ anh đã tưởng tượng ra mọi thứ. Anne chắc chắn đã bình thường lại lúc này, mỉm cười với anh khi anh giúp cô bước lên xe ngựa. Mái che đã được kéo ra để che mưa, nhưng cho dù thời tiết có tạnh, họ cũng sẽ lạnh cóng khi về đến Whipple Hill.

Nước nóng cho hai người họ. Anh sẽ yêu cầu ngay giây phút về tới nơi.

Mặc dù buồn thay, họ không tắm chung.

“Tôi chưa bao giờ đi xe song mã,” Anne nói, mỉm cười khi cô giữ chặt ruy băng của mũ bonnet.

“Không à?” anh không biết tại sao anh lại ngạc nhiên. Chắc chắn một cô gia sư không có lý do để đi trên một chiếc song mã. Nhưng mọi thứ ở cô cho thấy cô thuộc dòng dõi cao quý. Vài quãng thời gian trong cuộc đời, cô đã sống như một quý cô; anh không thể hình dung ra cô không có hàng chục quý ông cầu mong cô bầu bạn trong xe song mã và xe ngựa bốn bánh của họ.

“Ừm, tôi từng đi xe độc mã,” cô nói. “Người chủ trước kia của tôi có một cái, và tôi phải học cách lái. Bà ấy khá già, không ai tin bà ấy với cái dây cương.”


“Nó ở Đảo Man à?” anh hỏi, giữ giọng mình tươi vui. Thật lạ thường khi cô kể về vài mảnh quá khứ của mình. Anh sợ rằng cô sẽ thu mình lại nếu anh hỏi quá nhiều.

Nhưng dường như cô không lảng tránh thắc mắc của anh. “Đúng vậy,” cô khẳng định. “Trước đó tôi chỉ lái xe ngựa chở hàng. Cha tôi sẽ không mua một cỗ xe ngựa có hai chỗ ngồi. Ông luôn là người thực tế.”

“Em có cưỡi ngựa không?” anh hỏi.

“Không,” cô nói đơn giản.

Một manh mối khác. Nếu cha mẹ cô có tước hiệu, cô sẽ được đặt vào một cái yên ngựa ngồi một bên trước khi cô biết đọc.

“Em sống ở đó bao lâu?” anh gợi chuyện. “Trên Đảo Man.”

Cô không trả lời ngay, và anh nghĩ cô có thể sẽ không trả lời, nhưng sau đó, bằng giọng nhỏ nhẹ, pha chút ký ức, cô nói, “Ba năm. Ba năm và bốn tháng.”

Thận trọng nhìn đường, anh nói, “Nghe như thể em không nhớ nhung gì ở đó lắm.”

“Không.” Cô lại im lặng, khoảng mười giây, rồi cô nói, “Không kinh khủng lắm. Chỉ là…tôi không biết. Tôi còn trẻ. Và đó không phải là nhà.”

Nhà. Một thứ cô hầu như không bao giờ nhắc đến. Một thứ anh biết không nên hỏi, thay vào đó anh nói, “Em làm người bầu bạn với các phu nhân à?”

Cô gật. Anh chỉ nhìn thấy qua góc mắt; hình như cô quên mất anh phải xem chừng mấy con ngựa chứ không phải cô. “Không phải một công việc nặng nhọc gì lắm,” cô nói. “Bà ấy thích nghe đọc, nên tôi đọc khá nhiều. Việc may vá. Tôi cũng viết tất cả thư từ của bà ấy. Bà có khá nhiều mối quan hệ.”

“Ta cho là em rời đi khi bà ấy mất.”

“Phải. Tôi khá may mắn khi bà ấy có một cô cháu gái gần Birmingham đang cần một gia sư. Tôi nghĩ bà ấy biết thời gian của mình không còn nhiều, và bà viết thư giới thiệu tôi trước khi bà ấy mất.” Anne im lặng trong một lúc, sau đó anh cảm thấy cô ngồi ngay ngắn bên cạnh anh, như thể cô đang lắc bỏ màn ký ức tối tăm. “Và tôi đã làm gia sư kể từ đó.”

“Dường như nó hợp với em.”

“Phải, hầu hết thời gian.”

“Ta nghĩ—“ anh đột ngột cắt ngang. Thứ gì đó bất thường với mấy con ngựa.

“Gì thế?” Anne hỏi.

Anh lắc đầu. Anh không thể nói rõ bây giờ. Anh cần tập trung. Đám ngựa đang kéo về bên phải, thật vô nghĩa. Có gì đó kêu răng rắc, và đám ngựa tăng tốc nguy hiểm, kéo cỗ xe theo chúng cho đến khi—

“Ôi trời ơi,” Daniel hít vào. Khi anh đang quan sát trong sợ hãi, vẫn cố gắng điều khiển lũ ngựa, bộ cương ngựa rời ra khỏi càng xe và lũ ngựa chạy sang trái.

Mà không có cỗ xe.

Anne khẽ hét lên với nỗi khiếp sợ kinh hoàng khi cỗ xe lao xuống đồi, vẫn quay điên cuồng bằng hai bánh. “Ngả về trước!” Daniel gào lên. Nếu họ có thể cân bằng cỗ xe, họ có thể lái ra khỏi ngọn đồi cho đến khi chậm lại. Nhưng mái che làm nặng phần sau, các cú va đập và vết lún của con đường quê khiến họ gần như không thể nghiêng người về trước.

Sau đó Daniel nhớ đến khúc quanh. Nửa đường xuống ngọn đồi con đường cắt ngang về trái. Nếu họ tiếp tục đi thẳng, họ sẽ bị quẳng xuống ngọn đồi, lao vào đám rừng rậm rạp.

“Nghe này,” anh nói cấp bách. “Khi chúng ta xuống chân ngọn đồi, nghiêng về trái. Với mọi thứ em có, nghiêng về trái.”

Cô gật đầu điên cuồng. Mắt cô đang khiếp sợ, nhưng cô không kích động. Cô sẽ làm những gì phải làm. Ngay khi—

“Bây giờ!” anh hét.

Hai người họ quăng mình về trái, Anne ngả phía trên anh. Cỗ xe nâng lên một bánh, bánh xe gỗ rít lên một tiếng kinh hoàng vì sức nặng gấp đôi. “Phía trước!” Daniel hét, và họ cố kéo bản thân về trước, đẩy cỗ xe về phía bên trái, gần như trượt khỏi lề đường.

Như khi họ quay, bánh xe trái của họ--cái còn tiếp xúc với mặt đất—vấp vào thứ gì đó, cỗ xe lao về trước, nảy lên không trung trước khi rớt xuống đất với một tiếng rắc kinh khủng. Daniel bám chắc vì cuộc sống mến yêu, và anh nghĩ Anne cũng làm vậy, như khi anh nhìn cô bằng sự kinh hãi vô vọng, cỗ xe bắn cô lên, và bánh xe—Ôi trời ơi, bánh xe! Nếu nó cán qua cô—

Daniel không hề nghĩ ngợi. Anh ném mạnh người qua bên phải, làm cỗ xe đổ nhào trước khi nó đụng trúng Anne, đang nằm ở đâu đó trên mặt đất ở bên trái.


Cỗ xe đập mạnh xuống đất, trượt vài thướt trước khi đáp xuống vũng bùn. Trong một lúc Daniel không thể di chuyển. Anh bị va đập trước đó, anh bị rơi ngựa, quỷ thật, anh còn bị bắn. Nhưng chưa bao giờ hơi thở bị tống khỏi người anh như khi cỗ xe chạm đất.

Anne. Anh phải đến chỗ cô. Nhưng trước tiên anh phải thở đã, phổi anh có cảm giác như bị co thắt. Cuối cùng, vẫn đang thở dốc, anh bò ra khỏi cỗ xe đổ nhào. “Anne!” anh cố rống lên, nhưng đó là tất cả những gì anh có thể làm để khò khè tên cô. Tay anh lép nhép trong bùn, sau đó là đầu gối anh, sau đó, sử dụng mảnh vụn của một bên cỗ xe để chống đỡ, anh xoay xở để lảo đảo đứng dậy.

“Anne!” anh gọi lại lần nữa, lần này bằng âm lượng lớn hơn. “Cô Wynter!”

Không có hồi đáp. Không có âm thanh nào hết, chỉ có tiếng mưa, vỡ tan trên mặt đất đẫm nước.

Gần như chỉ có thể đứng, Daniel điên cuồng tìm kiếm từ chỗ của anh sang đến cỗ xe, quay theo vòng tròn khi anh cố đứng vững, tìm kiếm bất kì dấu hiệu nào của Anne. Cô mặc cái gì nhỉ? Màu nâu. Cô mặc màu nâu, một màu trung tính, hoàn hảo để  hòa lẫn với bùn đất.

Cô ắt hẳn ở phía sau anh. Cỗ xe đã lăn tròn và trượt thêm một chút sau khi cô rơi xuống. Daniel cố gắng quay lại cỗ xe, đôi bốt của anh cố lê lết trong vũng bùn sâu. Anh trượt ngã, mất thăng bằng, anh lao về trước, tay anh níu bất cứ thứ gì có thể giúp anh đứng thẳng. Vào phút cuối, tay anh bám vào một sợi dây da.

Cương ngựa.

Daniel nhìn xuống sợi dây trong tay anh. Nó là dây kéo ngựa, nối lũ ngựa với cỗ xe. Nhưng nó đã bị cắt. Chỉ còn lại một ít mẩu thừa, như thể nó đã bị treo lơ lửng bằng một sợi chỉ, có thể đứt phựt bằng áp lực nhỏ nhất.

Ramsgate.

Cơ thể anh chứa đầy phẫn nộ, và Daniel cuối cùng tìm được năng lượng để di chuyển về bên kia cỗ xe và tìm Anne. Lạy Chúa, nếu có chuyện gì xảy ra với cô…Nếu cô bị thương nặng…

Anh sẽ giết đức ngài Ramsgate. Anh sẽ moi ruột ông ta bằng tay không.

“Anne!” anh hét, điên cuồng quay tròn trong bùn khi anh tìm cô. Và rồi—đó có phải là một chiếc bốt không? Anh lao về trước, sẩy chân trong cơn mưa cho đến khi anh thấy cô rõ hơn, ngã gục trên mặt đất, nửa trên mặt đường, nửa trong đám cây.

“Ơn trời,” Daniel thì thào, anh chạy về trước, nỗi kinh hoàng chộp lấy tim anh. “Anne,” anh nói kinh hãi, đến bên cạnh cô và tìm kiếm mạch đập. “Trả lời ta. Chúa giúp ta, trả lời ta ngay.”

Cô không phản ứng, nhưng mạch đập vững vàng ở cổ tay cô đủ để cho anh hy vọng. họ chỉ cách nửa dặm với Whipple Hill. Anh có thể mang cô đến chừng đó. Anh đang run rẩy, và bầm dập, và có thể bị chảy máu, nhưng anh có thể làm được.

Cẩn trọng, anh nâng cô vào vòng tay anh và bắt đầu cuộc đi bộ không tưởng về nhà. Đám bùn khiến mỗi bước đi là một sự cân nhắc, và anh chỉ vừa vặn nhìn qua mái tóc của mình, mắt anh nhòe nước mưa. Nhưng anh cố tiếp tục, cơ thể kiệt quệ của anh tìm được sức mạnh qua nỗi kinh hoàng.

Và phẫn nộ.

Ramsgate sẽ trả giá cho điều này. Ramsgate sẽ trả giá, và có lẽ Hugh cũng vậy, và có Chúa, cả thế giới sẽ trả giá nếu Anne không bao giờ tỉnh dậy lần nữa.

Một bước tiến lên và một bước khác. Đó là những gì anh làm, cho đến khi Whipple Hill xuất hiện trong tầm nhìn. Và sau đó anh tăng tốc, rồi chạy nước rút, cuối cùng, chỉ khi cơ bắp anh đang thét gào và run lẩy bẩy, đầu gối anh sắp oằn xuống, anh bước ba bước đến cửa vào to lớn và đá mạnh cánh cửa.

Lần nữa.

Và lần nữa.

Lần nữa lần nữa lần nữa cho đến khi anh nghe tiếng bước chân vội vã về phía anh.

Cánh cửa mở ra, người quản gia hét lên “Thưa Đức ngài!” Và sau đó, khi ba người hầu lao đến để giảm gánh nặng cho anh, anh ngồi bệt xuống sàn, kiệt sức và kinh hãi.

“Chăm sóc cô ấy,” anh thở dốc. “Ủ ấm cô ấy.”

“Ngay bây giờ, thưa đức ngài,” người quản gia bảo đảm với anh, “nhưng ngài—“

“Không!” Daniel yêu cầu. “Chăm sóc cô ấy trước.”

“Vâng, thưa đức ngài.” Quản gia lao qua những người hầu kinh sợ đang đỡ Anne, quên bẵng đi những dòng nước đang chảy ra từ tay áo của anh. “Đi” anh ra lệnh. “Đi ngay! Mang cô ấy lên lầu, và cô”—anh hất đầu về phía cô hầu đang đứng ở sảnh trố mắt ra nhìn—“nấu nước nóng để tắm đi. Ngay lập tức!”

Daniel nhắm mắt, am lòng vì những hoạt động nhộn nhịp xảy ra xung quanh anh. Anh đã làm những gì cần làm. Anh đã làm những gì anh có thể làm.


Cho đến lúc này.

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2015

A night like this - Chương 11






Sáu tiếng sau, khi Anne chỉnh lại cái khăn choàng có ý nghĩa biểu thị cô là nữ hoàng độc ác, cô phải thừa nhận rằng cô không thể nhớ có buổi chiều nào thú vị hơn thế này.

Buồn cười, phải; hoàn toàn không có giá trị học thuật, đúng. Nhưng mà, cực kỳ thú vị.

Cô đã rất vui.

Vui. Cô không thể nhớ lần cuối cùng mình vui như vậy.

Họ đã luyện tập cả ngày (không phải do họ có kế hoạch thật sự trình diễn Bi kịch buồn và lạ thường của Đức ngài Finstead trước mặt khán giả), và cô không thể đếm được số lần cô phải dừng lại để cười nghiêng ngả.

“Ngươi sẽ không bao giờ đánh con gái ta!” cô ngâm nga, vẫy cây gậy trong không khí.

Elizabeth cúi xuống.

“Ôi! Anne rụt lại. “Cô xin lỗi. Em có sao không?”

“Em ổn,” Elizabeth cam đoan với cô. “Em—“

“Cô Wynter, cô lại diễn hỏng nữa rồi!” Harriet than thở.

“Cô gần như đánh Elizabeth,” Anne giải thích.

“Em không quan tâm.”

Elizabeth phả ra một luồng hơi căm phẫn. “Em quan tâm.”

“Có lẽ cô không nên sử dụng cây gậy,” Frances nói.

Harriet dành cho em gái cái liếc khinh khỉnh trước khi quay lại những người khác. “Có lẽ chúng ta nên quay lại kịch bản chăng?” cô nói bằng giọng quá đoan trang đến nỗi nó biến thành vẻ mỉa mai.

“Dĩ nhiên,” Anne nói, nhìn xuống kịch bản. “Chúng ta đang ở khúc nào? Ồ, phải rồi, đừng đánh con gái ta và tiếp theo.”

Cô Wynter.”

“Ô không, cô không đọc dòng chữ. Cô chỉ đang tìm nó thôi.” Cô hắng giọng và vẫy cây gậy, tránh xa khỏi Elizabeth. “Ngươi sẽ không bao giờ đánh con gái ta!”

Cô không biết làm sao cô có thể nhịn được cười.

“Tôi không muốn đánh nàng ấy,” đức ngài Winstead nói, với vẻ kịch tính đủ để khiến cho khán giả Drury Lane phải khóc thét. “Tôi muốn cưới nàng.”

“Không bao giờ.”

“Không, không, không, Cô Wynter!” Harriet hét. “Cô không được nghe có vẻ phiền muộn như thế.”

“Ừm, cô không có,” Anne thừa nhận. “Cô con gái có hơi ngờ nghệnh. Cô nghĩ nữ hoàng độc ác sẽ vui mừng vì phũ được cô ấy đi.”

Harriet để thoát ra một hơi-thở-dài-vẻ-chịu-đựng. “Hãy diễn như kịch bản, nữ hoàng độc ác không nghĩ con gái mình ngờ nghệch.”

“Em nghĩ cô con gái thật ngờ nghệch,” Elizabeth phụ họa.

“Nhưng em là cô con gái,” Harriet nói.

“Em biết! Em đã đọc lời thoại của cô ta cả ngày nay. Cô ta là con ngốc.”

Khi họ đang cãi nhau, đức ngài Winstead đến gần Anne và nói, “Ta có cảm giác mình hơi giống một ông già dâm đãng, cố gắng cưới Elizabeth.”

Cô cười khúc khích.

“Ta cho là em không có ý định đổi vai.”

“Với ngài?”

Anh quắc mắt. “Với Elizabeth.”

“Sau khi ngài nói tôi đóng vai nữ hoàng độc ác hoàn hảo sao? Tôi nghĩ là không.”

Anh nghiêng đến gần hơn. “Không với những lọn tóc chẻ làm tư đó, nhưng ta tin là ta có nói em là một nữ hoàng độc ác hoàn hảo.”

“Ồ, phải. Thế tốt hơn nhiều.” Anne nhướng mày. “Ngài có thấy Frances chưa?”

Anh nghiêng đầu sang phải. “Ta tin là con bé đang trốn ở chỗ gốc cây trong mấy bụi rập.”

Anne lo lắng nhìn theo ánh mắt cô. “Gốc cây?”

“Con bé bảo ta là đang luyện tập cho vở kịch kế tiếp.”

Anne chớp mắt, không hiểu ý anh.

“Khi đó con bé sẽ đóng vai con kì lân.”

“À, phải rồi.” Cô cười. “Cô bé có hơi ngoan cường.”

Đức ngài Winstead cười toe, và bụng Anne giật nhẹ. Anh có một nụ cười thật đáng yêu. Tinh nghịch láu lĩnh, nhưng với…ồ, Anne không biết làm sao để miêu tả nó ngoại trừ việc anh là người tốt, một người trọng danh dự biết phân biệt phải trái, và không thành vấn đề nụ cười của anh ma mãnh đến đâu…

Cô biết anh sẽ không làm đau cô.

Thậm chí cả cha ruột của cô cũng không tỏ ra đáng tin cậy.

“Đột nhiên trông em thật nghiêm nghị,” Đức ngài Winstead nói.

Anne chớp mắt thoát khỏi cơn mơ màng. “Ôi, không có gì,” cô nói nhanh, hi vọng mình không đỏ mặt. Thỉnh thoảng cô phải nhắc nhở mình rằng anh không thể nhìn thấu suy nghĩ của cô. Cô nhìn qua chỗ Harriet và Elizabeth, vẫn đang tranh cãi, cho dù lúc này họ đã chuyển đề tài sự thông minh (hoặc thiếu thông minh) của công chúa xinh đẹp và bắt đầu chuyển qua—

Trời ạ, có phải họ đang bàn luận về gấu hoang?

“Tôi nghĩ chúng ta cần nghỉ giải lao,” cô nói.

“Ta sẽ nói với em chuyện này,” Đức ngài Winstead nói. “Ta sẽ không đóng vai con gấu.”

“Tôi nghĩ ngài không cần lo lắng,” Anne nói. “Frances chắc sẽ chộp lấy vai đó thôi.”

Anh nhìn cô. Cô nhìn anh. Và cùng nhau họ bật cười, cười lớn đến nỗi làm Harriet và Elizabeth ngừng bắn tỉa nhau.

“Chuyện gì vui vậy?” Harriet hỏi, theo sau là vẻ nghi ngờ cùng cực của Elizabeth “Hai người đang cười em sao?”

“Bọn anh cười tất cả mọi người,” đức ngài Winstead nói, chùi nước mắt. “Cả chính bọn anh nữa.”

“Em đói,” Frances thông báo, thò mặt ra từ bụi cây. Có vài cái lá dính trên váy và một nhánh cây nhỏ ló ra từ bên đầu cô bé. Anne không nghĩ đó là giả cho cái sừng kì lân, nhưng dù sao thì cũng rất đáng yêu.

“Em cũng đói,” Harriet nói với tiếng thở dài.

“Tại sao một trong các em không quay lại nhà và yêu cầu đầu bếp nấu một giỏ đồ ăn? Anne gợi ý, “Tất cả chúng ta sẽ bổ sung năng lượng.”

“Em sẽ đi,” Frances gợi ý.

“Chị sẽ đi với em,” Harriet bảo cô bé. “Chị sẽ suy nghĩ tốt hơn khi chị đi bộ.”

Elizabeth nhìn chị em của mình, sau đó quay qua hai người lớn. “Ừm, em sẽ không ở lại đâu,” cô nói, hai người lớn hình như không được tính như người đồng hành thích hợp, và ba cô gái quay về căn nhà, bước chân chúng nhanh chóng chuyển từ đi bộ sang chạy đua.

Anne nhìn theo khi chúng biến mất khỏi con dốc. Hình như cô không nên một mình ở đây với Đức ngài Winstead, nhưng thật khó để từ chối. Bây giờ đang giữa trưa, và họ đang ở ngoài trời, hơn nữa, hồi trưa nay cô đã rất vui đến nỗi cô không nghĩ cô có thể tìm được một lời phản đối với bất kì thứ gì ngay sau đó.

Cô nặn một nụ cười trên mặt, cô khá vui khi giữ nó ở đó.

“Ta nghĩ em có thể tháo khăn choàng ra,” Đức ngài Winstead gợi ý. “Không có ai phải độc ác mọi lúc mọi nơi.”

Anne cười, ngón tay cô trượt theo chiều dài của miếng lụa đen. “Tôi không biết nữa. Tôi thấy tôi khá thích đóng vai ác.”

“Em đóng rất tốt. Ta phải thú nhận, Ta khá ghen tỵ với sự độc ác của em. Tội nghiệp Đức ngài Finstead, hoặc bất cứ cái tên nào khác, có thể sử dụng được nhiều hơn một mẩu độc ác nào. Anh ta một anh chàng khá xui xẻo.”

“A, nhưng cuối cùng anh ta có được công chúa,” Anne nhắc anh, “và nữ hoàng độc ác phải sống phần đời còn lại trong một cái gác mái.”

“Điều đó khỏi phải bàn,” anh nói, quay qua cô với cái cau mày. “Tại sao câu chuyện của Đức ngài Finstead lại buồn? Lạ thường thì rõ ràng rồi, nhưng nếu nữ hoàng độc ác kết thúc trong một cái gác mái—“

“Trong gác mái của anh ta,” Anne xen ngang.

“Ồ.” Anh nhìn như thể đang nhịn cười. “Chà, cái đó thì thay đổi mọi chuyện.”

Sau đó họ bật cười. Cả hai người họ. Cùng nhau.

Một lần nữa.

“Ôi tôi cũng thấy đói,” Anne nói, khi cơn cười của cô tan chảy thành một nụ cười. “Tôi hy vọng các cô gái không đi quá lâu.”

Sau đó cô cảm thấy Đức ngài Winstead nắm tay mình. “Ta hi vọng chúng đi đủ lâu,” anh thì thầm. Anh kéo cô vào anh, và cô để anh làm vậy, trong giây phút đó cô còn hơn cả hạnh phúc để nhớ đến tất cả mọi cách chắc chắn anh sẽ làm để khiến cô tổn thương.

“Ta bảo em ta sẽ hôn em lần nữa,” anh thì thầm.

“Ngài bảo ngài sẽ cố.”

Anh hôn cô. “Ta biết ta sẽ thành công.”

Anh lại hôn cô, và cô vùng ra, nhưng chỉ khoảng một inch hoặc hơn. “Ngài khá tự tin đấy.”

“Hừm-ừm.” Môi anh tìm thấy khóe miệng cô, sau đó nhẹ nhàng lướt dọc theo làn da cô cho đến khi cô không thể chịu được nữa và ngả đầu về sau để cho anh chạm đến đường cong của cổ cô.

Áo choàng của cô trượt đi, phô bày làn da của cô với không khí mát lạnh buổi chiều, và anh hôn cô, đúng ngay cạnh vạt áo của cô, trước khi quay lại với miệng cô. “Chúa ơi, ta muốn em quá nhiều,” anh nói, giọng anh không hơn một hơi thở. Anh ôm cô chặt hơn, cả hai tay anh ôm mông cô và nâng cô lên…về phía…cho đến khi cô bị một cơn điên cuồng chiếm lấy để quàng chân quanh người anh. Đó là những gì anh muốn, và Chúa giúp cô, đó cũng là những gì cô muốn.

Cảm ơn trời vì chiếc váy của cô, nó có thể là điều duy nhất ngăn cô khỏi hành xử đáng xấu hổ. Nhưng mà, khi một tay anh chạm vào vạt áo trên của cô, cô không từ chối. Và khi lòng bàn tay anh nhẹ nhàng ấn vào nụ hoa của cô, cô khẽ rên rỉ.

Chuyện này phải dừng lại. Nhưng chưa phải lúc.

“Đêm qua anh mơ về em,” anh lại thì thầm trên da cô. “Em có muốn biết anh mơ gì không?”

Cô lắc đầu, mặc dù cô rất rất muốn. Nhưng cô biết giới hạn của mình. Cô chỉ có thể đi trên con đường này tới đây thôi. Nếu cô nghe về giấc mơ của anh, nghe những từ ngữ từ môi anh khi chúng trút nhẹ nhàng xuống da cô, cô sẽ muốn chúng, mọi điều anh nói.

Và thật quá đau đớn để muốn một thứ mà cô không bao giờ có được.

“Em mơ về cái gì?” anh hỏi.

“Tôi không mơ,” cô nói.

Anh im lặng, sau đó lùi lại để anh có thể nhìn cô. Mắt anh—đôi mắt xanh sáng đáng kinh ngạc đó—đang bị sự tò mò lấp đầy. Và có lẽ là một chút buồn bã chạm qua.

“Tôi không mơ,” cô lại nói. “Tôi không mơ nhiều năm rồi.” Cô nói với một cái nhún vai. Đối với cô bây giờ điều đó thật bình thường; nó không thường xảy ra với cô cho đến lúc thật kì lạ đối với người khác.

“Nhưng khi còn bé em có mơ không?” anh hỏi.

Cô gật đầu. Cô không thật sự nghĩ về nó trước đây, hay có lẽ cô chỉ là không muốn nghĩ về nó. Nhưng nếu cô có mơ kể từ khi cô rời Northumberland tám năm trước, cô cũng không nhớ rõ. Mỗi buổi sáng thức dậy, không có gì ngoài màn đêm tăm tối. Một khoảng không trống rỗng, hoàn toàn trống rỗng. Không hy vọng. Không mơ ước.

Nhưng cũng không có ác mộng.

Hình như đó là một cái giá phải trả. Cô đã lãng phí đủ thời gian để lo lắng về George Chervil và cơn trả thù điên cuồng của hắn.

“Em không thấy như vậy là kì lạ sao?” anh hỏi.

“Chuyện tôi không mơ ư?” Cô biết anh có ý gì, nhưng vì vài lí do cô cần phải nói thành lời.

Anh gật.

“Không.” Giọng cô ngang phè. Nhưng chắc chắn. Có lẽ hơi kì lạ, nhưng cũng rất an toàn.

Anh không nói gì, nhưng mắt anh tìm kiếm mắt cô với cái nhìn sắc sảo cho đến khi cô phải quay đi. Anh đã nhìn sâu nội tâm của cô. Chưa đầy một tuần người đàn ông này đã khám phá cô nhiều hơn những gì cô từng tiết lộ cho ai khác suốt tám năm qua. Thật đáng lo.

Thật nguy hiểm.

Miễn cưỡng cô rời khỏi vòng tay anh, bước đi đủ xa để anh không thể chạm vào cô. Cô khom xuống để lấy áo choàng trên bãi cỏ, không nói một lời cô khoác nó vào vai mình. “Các cô gái sẽ sớm quay lại,” cô nói, mặc dù cô biết không phải vậy. Ít nhất phải mất 15 phút trước khi họ quay lại, có lẽ là hơn.

“Vậy chúng ta đi tản bộ nào,” anh gợi ý, đưa cánh tay ra.

Cô nhìn anh nghi ngờ.

“Không phải ta làm gì cũng để cám dỗ em đâu,” anh nói với tiếng cười. “Ta nghĩ ta có thể chỉ cho em một nơi ưa thích của ta ở Whipple Hill.” Khi cô đặt tay vào cánh tay anh, anh nói thêm, “Chúng ta chỉ cách khoảng một phần tư dặm hoặc hơn so với cái hồ.”

“Nó có cá không?” cô hỏi. Cô không thể nhớ lần cuối cùng cô đi câu cá, nhưng mà, khi còn bé cô thích câu cá làm sao. Cô và Charlotte đã từng làm mẹ họ suy sụp, mẹ muốn họ theo đuổi những hoạt động nữ tính. Những hoạt động mà cuối cùng họ cũng làm. Nhưng thậm chí sau khi Anne trở nên ám ảnh với váy xống và giữ mình đúng mực mỗi khi có một quý ông thích hợp để mắt đến một quý cô thích hợp…

Cô vẫn thích câu cá. Thậm chí cô còn rất vui khi moi ruột cá và làm sạch chúng. Và dĩ nhiên cả việc ăn cá nữa. Người ta không thể nào cảm thấy không hài lòng với thực phẩm do mình tự bắt được.

“Tất nhiên có cá,” Đức ngài Winstead nói. “Nó luôn như vậy trước khi ta đi, và ta nghĩ người quản lý của ta không có lí do gì để thay đổi các chỉ thị.” Mắt cô ắt hẳn phải sáng rỡ, bởi vì anh mỉm cười khoan dung và hỏi, “Vậy là em thích cá?”

“Ồ, rất nhiều,” cô nói với tiếng thở dài ao ước. “Khi tôi còn nhỏ…” Nhưng cô không nói hết câu. Cô quên mất cô không nói về tuổi thơ của mình.

Nhưng nếu anh có hiếu kì—cô chắc là anh có—thì anh cũng không thể hiện ra. Khi họ bước đi khoan thai về phía một cái cây rậm lá, anh chỉ nói, “Khi còn nhỏ ta cũng thích câu cá. Ta lúc nào cũng đến đây với Marcus—Đức ngài Chatteris,” anh nói thêm, khi dĩ nhiên cô không biết tên thánh của bá tước.

Anne nhìn phong cảnh xung quanh mình. Đó là một ngày xuân rực rỡ, và hình như có cả ngàn màu xanh khác nhau lăn tăn từ những chiếc lá cho đến ngọn cỏ. Thế giới trông thật tươi mới, và đầy hi vọng. “Đức ngài Chatteris thường xuyên đến đây khi còn nhỏ à?” cô hỏi, hăm hở giữ cuộc trò chuyện ở những chủ đề vô thưởng vô phạt.

“Thường xuyên,” Đức ngài Winstead đáp. “Hay ít nhất là mỗi kì nghỉ lễ. Lúc chúng ta mười ba tuổi ta không biết có khi nào ta về nhà mà không có cậu ấy.” Họ bước đi thêm một chút, rồi anh đưa tay ra bứt một chiếc lá cành thấp. Anh nhìn nó, nhướng mày, cuối cùng với một cái búng tay anh phóng nó bay lên trong không khí, và sự dao động có gì đó thật mê hoặc, bởi vì cả hai người đều dừng bước để nhìn theo chiếc lá rơi xuống bãi cỏ.

Và sau đó, cứ như thời điểm này chưa bao giờ xảy ra, Đức ngài Winstead nhẹ nhàng tiếp tục cuộc trò chuyện dở dang. “Marcus không có gia đình để trò chuyện cùng. Không anh chị em, và mẹ cậu ấy chết khi cậu ấy còn khá nhỏ.”

“Cha ngài ấy thì sao?”

“Ô, cậu ấy hầu như không nói chuyện với ông ấy,” Đức ngài Winstead đáp. Nhưng anh nói câu đó với sự lãnh đạm, như thể không có gì đặc biệt với việc người cha và con trai không nói chuyện với nhau. Hình như trông không giống anh lắm, Anne nghĩ. Chính xác thì không phải không quan tâm, mà là…Ừm, cô không biết đó là gì, ngoại trừ nó làm cô ngạc nhiên. Và rồi cô bất ngờ khi cô biết anh đủ rõ để chú ý đến một chuyện như vậy.

Bất ngờ và có lẽ là một chút cảnh báo, bởi vì cô không nên hiểu anh. Đây không phải nơi của cô, và một mối liên hệ như vậy chỉ có thể dẫn đến tổn thương. Cô biết thế, và anh cũng nên như vậy.

“Họ ghẻ lạnh nhau sao?” cô hỏi, vẫn thấy hiếu kì về Đức ngài Chatteris. Cô chỉ mới gặp bá tước một lần, cuộc gặp rất ngắn ngủi, nhưng hình như giữa họ có điểm chung nào đó.

Đức ngài Winstead lắc đầu. “Không. Ta nghĩ ngài bá tước già Chatteris đơn giản là không có gì để nói.”

“Với con trai mình sao?”

Anh nhún vai. “Không phải chuyện hiếm có gì, thật đấy. Phân nữa bạn học của ta hình như không biết màu mắt cha mẹ của họ.”

“Xanh,” Anne thì thào, đột nhiên bị một làn sóng nhớ nhà đánh úp. “Và lục.” Mắt các chị gái cô cũng có màu xanh và màu lục nhưng cô lấy lại bình tĩnh trước khi thốt ra lời.

Anh nghiêng đầu đến gần cô, nhưng anh không hỏi cô câu nào, cô rất biết ơn vì điều đó. Thay vào đó anh nói, “Cha ta có màu mắt giống hệt ta.”

“Còn mẹ ngài?” Anne đã gặp mẹ anh, nhưng cô không có lí do gì để lưu ý màu mắt của bà. Cô muốn cuộc nói chuyện này tập trung vào anh. Mọi thứ sẽ dễ dàng theo cách này.

Không nhắc đến đây là chủ đề mà hình như cô đặc biệt quan tâm.

“Mắt mẹ ta cũng màu xanh,” anh nói, “nhưng xanh đậm hơn. Không đậm bằng mắt em—“ Anh quay đầu, chăm chú nhìn cô. “Nhưng ta phải nói, ta không biết ta có từng nhìn thấy đôi mắt nào như em không. Chúng gần giống màu tím.” Đầu anh hơi nghiêng thêm một tí. “Nhưng không phải vậy. Chúng vẫn có màu xanh.”

Anne cười và quay đầu đi. Cô luôn hãnh diện vì đôi mắt cô. Đó là cái phù phiếm duy nhất mà cô cho phép mình. “Từ đằng xa trông chúng giống màu nâu,” cô nói.

“Lí do tuyệt vời để trân trọng lúc được ở gần em,” anh thì thầm.

Cô nín thở và liếc trộm anh, nhưng anh không còn nhìn cô nữa. Thay vào đó anh ra dấu về phía trước và nói, “Em có thấy cái hồ không? Xuyên qua những cái cây này.”

Anne nhướng cổ chỉ vừa đủ để thấy một tia sáng óng ánh lóe lên giữa những hàng cây.

“Vào mùa đông em có thể thấy nó khá rõ, nhưng khi những cây ra lá, nó bị khuất đi.

“Thật đẹp,” Anne chân thành nói. Thậm chí là lúc này, cho dù không thể nhìn thấy mặt nước, nó cũng thật bình dị. “Nước đủ ấm để bơi không?”

“Không đâu, nhưng mỗi thành viên trong gia đình ta thường tìm cách để được vọc nước ở một thời điểm nào đó.”

Anne cảm thấy buồn cười. “Ôi trời ạ.”

“Một vài người trong chúng ta nhiều hơn một lần,” đức ngài Winstead ngượng ngùng nói.

Cô nhìn sang anh, và anh trông đáng yêu như trẻ con đến mức cô như ngưng thở. Cuộc đời cô sẽ ra sao nếu cô gặp được anh thay vì George Chervil khi cô mười sáu tuổi? Hoặc nếu không phải anh ( khi đó cô không bao giờ có thể kết hôn với một bá tước, ngay cả là Annelise Shawcross), thì ai đó giống anh. Ai đó tên Daniel Smythe, hoặc Daniel Smith. Nhưng anh sẽ luôn là Daniel, Daniel của cô.

Anh sẽ không bao giờ thừa kế tước hiệu tòng nam tước, hay bất kì tước hiệu nào khác, chỉ là một điền chủ thôn quê bình thường với một căn nhà dễ chịu và ấm cúng, một vùng đất khoảng mười mẫu Anh và một bầy chó săn lười biếng.

Cô sẽ yêu nó. Mỗi giây phút trần tục đó.

Có thực cô đã từng thèm muốn sự phấn khích? Lúc 16 tuổi cô từng nghĩ cô muốn đến London và đến nhà hát và rạp opera, và mọi bữa tiệc mà cô được mời. Một mệnh phụ rạng rỡ - đó là những gì cô bảo với Charlotte rằng cô muốn.

Nhưng đó chỉ là sự dại dột của tuổi trẻ. Chắc chắn, cho dù cô có kết hôn với một người đàn ông sẽ mang cô đến thủ đô và nhấn chìm cô trong cuộc sống chói lòa của tầng lớp thượng lưu…Chắc chắn cô sẽ mệt mỏi với mọi thứ và muốn quay về Northumberland, nơi nhịp sống dường như chảy chậm hơn, và không khí chuyển thành màu xám vì sương mù thay vì bồ hóng.

Cô đã nhận được những bài học quá muộn.

“Tuần này chúng ta đi câu cá chứ?” anh hỏi khi họ đi tới bờ hồ.

“Ồ, tôi thích câu cá hơn bất kì thứ gì.” Lời nói thốt ra khỏi miệng cô với sự hào hứng vui vẻ. “Tất nhiên chúng ta sẽ mang các cô gái theo cùng.”


“Tất nhiên,” anh làu bàu, quý ông đích thực.

Vài lần họ đứng trong im lặng. Anne có thể đứng đây cả ngày, nhìn vào mặt nước tĩnh lặng. Thi thoảng một chú cá sẽ vọt lên làm xao động mặt nước, tạo nên những vòng tròn nhỏ giống những vòng tròn của một tấm bia.

“Nếu ta là một cậu nhóc,” Daniel nói, cũng sững sờ vì mặt nước cũng như cô, “ta sẽ ném một hòn đá. Ta sẽ làm thế.”

Daniel. Khi nào cô đã bắt đầu nghĩ về anh như thế?

“Nếu tôi là một cô nhóc,” cô nói, “Tôi sẽ cởi giày và bít tất.”

Anh gật, và rồi với nụ cười nửa miệng vui vẻ, anh thừa nhận, “Ta chắc hẳn sẽ đẩy em xuống nước.”

Cô nhìn mặt nước. “Ồ, tôi sẽ kéo ngài theo tôi.”

Anh cười thích thú, và sau đó họ lại im lặng, chỉ vui vẻ nhìn mặt hồ, và cá, một đám bồ công anh ló ra mặt nước ở gần bờ.

“Hôm nay là một ngày hoàn hảo,” Anne nhẹ nhàng nói.

“Gần như,” Daniel thì thầm, rồi cô lại ở trong vòng tay anh. Anh hôn cô, nhưng lần này thì khác. Ít cấp bách hơn. Ít nồng cháy hơn. Môi họ chạm vào nhau nhẹ nhàng, có lẽ nó không làm cô điên cuồng, giống như cô muốn ấn mình vào người anh và có anh vào trong cô. Có lẽ thay vào đó anh khiến cô cảm thấy mình nhẹ bẫng, như thể cô có thể nắm tay anh và trôi bồng bềnh, và cô nhón chân, gần như chờ đợi giây phút cô rời khỏi mặt đất.


Rồi anh cắt ngang nụ hôn, lùi lại vừa đủ để anh tựa trán mình lên trán cô. “Đây,” anh nói, ôm mặt cô bằng tay anh. “Bây giờ nó là một ngày hoàn hảo.”